|
Một phép “so sánh” sự giống nhau của hai tác giả được lan truyền trên mạng |
Sau triển lãm Hát trên cánh đồng xanh (họa sĩ Đinh
Quân) diễn ra khá rầm rộ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), trên
một vài diễn đàn và báo chí rầm rộ không kém một cuộc tranh luận: có
hay không có chuyện “đạo vẽ”? có hay không có việc copy ý tưởng hoặc
phong cách thể hiện trong làng mỹ thuật Việt?
Cũng giống như
“đạo nhạc”, “đạo văn”, “đạo luận văn tốt nghiệp”.v.v., “đạo vẽ” không
phải là vấn đề mới mẻ cả ở trong lẫn ngoài nước. Năm 2006, một cuộc
tranh luận khá nảy lửa về chuyện “nhái (copy) phong cách tranh”, với
những tên tuổi, “tang chứng, vật chứng” tưởng như rành rành, vậy mà sự
thực, với công chúng, vẫn nằm ở một nơi nào đó rất mơ hồ..., bởi ranh
giới giữa “học tập” (kế thừa, phát triển) phong cách, ý tưởng nghệ
thuật với việc nhái, copy phong cách, ý tưởng không phải lúc nào cũng
sáng rõ. Chuyên đề Mỹ thuật - Câu chuyện phong cách kỳ
này xin tiếp cận vấn đề nan giải trên từ một góc nhìn hẹp: Không danh
họa nào từ trên trời rơi xuống (hay không một phong cách cá nhân nào
lại không chịu ảnh hưởng từ một phong cách khác), nhưng ai là “tên trộm
thiên tài” và ai là “kẻ cắp vụng về”?
|
Thực hiện chuyên đề: PHẠM THỊ THU THỦY
(Với sự giúp đỡ của nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật, họa sĩ Nguyễn Quân và một số tư liệu tham khảo của đồng nghiệp) |
|
Trường phái và những “cây cao bóng cả”
Trong
nghệ thuật phong cách - trường phái là một trục chính của sự phát
triển. Thời cổ và trung đại phong cách - trường phái được duy trì lâu
dài có khi vài thế kỷ. Chúng tiến triển và thay đổi chậm chạp cùng sự
tiến hóa chậm chạp của xã hội, quốc gia - dân tộc, khu vực hay vùng
miền. Sang thời hiện đại, từ cuối TK 19 các phong cách - trường phái
thay đổi ngày càng nhanh chóng gấp gáp hơn. Nếu cho tới chủ nghĩa ấn
tượng Pháp các phong cách - trường phái ở phương Tây còn phát triển
tuyến tính: sau Tân cổ điển là Lãng mạn, rồi Hiện thực, rồi Ấn tượng,
thì từ cành cây lực lưỡng của Hậu ấn tượng, từ các cha đẻ của nghệ
thuật hiện đại như Van Gogh, Gauguin, Cézanne, Much... đồng thời đâm
nảy hàng loạt phong cách - trường phái tạo nên cuộc cách mạng vĩ đại
nhất của nghệ thuật ngay từ trước thế chiến I. Người ta có thể kể ra
hai chục phong cách - trường phái nghệ thuật phương Tây chỉ trong TK
20. Phong cách - trường phái có hệ thẩm mỹ riêng, hệ ngôn ngữ riêng,
những ước định tinh thần, triết học riêng, những vùng xúc cảm và chủ đề
khá đặc trưng cũng như những thông điệp văn hóa, xã hội, đạo đức, tình
cảm, triết lý đặc trưng và một hình thức biểu hiện “nhìn là nhận ra
ngay”.
Tranh của Picasso
Các phong cách - trường phái hình thành được là
nhờ có các phong cách cá nhân độc đáo, có tầm ảnh hưởng lớn. Đó là Van
Gogh của Biểu hiện, Picasso của Lập thể, Dali của Siêu thực, Kandinsky
của Trừu tượng, Polock của Trừu tượng biểu hiện, Warhol của Pop-art
v.v... Họ là những tác giả lớn xác định dòng chảy của phong cách -
trường phái mà họ thường là người chủ xướng, là những cây cổ thụ tỏa
bóng rộng khắp phong cảnh nghệ thuật. Ảnh hưởng của họ nhiều khi áp
đảo, tạo ra những “rào cản”, những “đỉnh cao không thể vượt qua” làm
khổ các thế hệ đàn em! Họ cũng thường xây dựng nền móng lý thuyết nghệ
thuật và nhân văn cho trường phái “của mình” nên ảnh hưởng càng lâu
dài, trở thành các bài học kinh điển bắt buộc cho các trường dạy nghệ
thuật và lịch sử nghệ thuật. Cho tới cuối TK 20 phong cách-trường phái
và phong cách cá nhân vẫn là mục tiêu phấn đấu của các nghệ sĩ. Sau đó
tình hình có khác đi đôi chút khi các nghệ sĩ đương đại thực hành các
môn nghệ thuật mới, đa phương tiện của thế giới nghe nhìn, xã hội thông
tin và tiêu thụ hậu công nghiệp.
Với nghệ sĩ đương đại tôi là tôi quan trọng hơn tôi là một phong cách hoặc tôi thuộc về một trường phái nào.
Với họ mọi thứ đều có thể là nghệ thuật, mọi thứ đều có thể dùng để làm
nghệ thuật, mọi ngôn ngữ, triết lý đều có thể được huy động... Với họ
đôi khi hình thức thể hiện đặc trưng cho một tác giả trở thành một lồng
cũi chật hẹp, phô trương và giả tạo. Tấm gương mà họ noi theo có thể là
Picasso, người thay đổi “phong cách cá nhân” mạnh mẽ, liên tục bằng
cách tiếp thu, dung hợp mọi ảnh hưởng từ khắp thế giới, từ toàn bộ lịch
sử và thời đại của mình. Nhưng cuối cùng, các nghệ sĩ đương đại dù
không xác lập trường phái vẫn mang phong cách cá nhân độc đáo và chỉ có
thể đi vào lịch sử nghệ thuật bằng phong cách cá nhân mà thôi!
Ba phong cách - trường phái của mỹ thuật Việt Nam
Với tôi mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX có ba phong cách - trường phái:
Nghệ thuật Đông Dương:
mang tính lãng mạn, thị dân, tự do cá nhân và kết hợp nhuần nhuyễn ảnh
hưởng của nghệ thuật Pháp TK 19 với một số kỹ thuật, thẩm mỹ truyền
thống.
Phong cách nghệ thuật Đông Dương với các bậc thầy: Nguyễn Phan Chánh 
và Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân
Nghệ thuật Hiện thực XHCN: với sự đồng nhất, đơn
điệu của ngôn ngữ biểu hiện, của đề tài và chủ đề tư tưởng nhưng lại
mạnh mẽ trong hiệu quả tuyền truyền, cổ động, mang tính dung dị đáng
yêu và tinh thần dân tộc chủ nghĩa đậm đặc.
Nghệ Thuật Đổi Mới:
từ khoảng 1980 tới 2000 (khác với nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới bao
gồm mọi hoạt động nghệ thuật - kể cả nghệ thuật đương đại) với sự trở
lại mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân, sự trở về với nghệ thuật Việt Nam
thời tiền thực dân và sự dung hợp hỗn tạp mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa
hiện đại phương Tây. Tất nhiên có được ba phong cách - trường phái đó
là nhờ mỗi trường phái ấy đều có các bậc thầy, các tác giả tiêu biểu
của mình.
Không dung hợp không thành tác giả lớn!
Cũng
như người ta có tổ tiên, nghệ sĩ luôn chịu ảnh hưởng từ nguồn nào đó
chứ không có phong cách cá nhân nào không giống ai, không chịu ảnh
hưởng của ai, hoàn toàn “từ trên trời rơi xuống”. Ngược lại nghệ sĩ
càng lớn thì càng cần và có khả năng chịu tiêu hóa, dung hợp được nhiều
ảnh hưởng lớn lao.
Nguyễn Tư Nghiêm có lần được hỏi có ảnh
hưởng Picasso không. Ông khéo léo trả lời rằng ông học từ nghệ thuật cổ
Việt Nam, rằng ông và Picasso có xuất phát điểm khác nhau mà đến cùng
một chỗ! Một bạn ngoại quốc hỏi Nguyễn Sáng có học Matisse không. Ông
nổi cáu, bày ra các tranh khắc gỗ Đông Hồ rồi “vặn” lại: “Cái này không đẹp hơn Matisse của anh à?”.
Tôi
thường tôn Bùi Xuân Phái là “Ultrillo de Ha Noi” và hỏi cụ có thích
Derain không. Họa sĩ cười hiền và bảo ông rất thích họ. Tôi ngưỡng mộ
các bức thiếu nữ của Tô Ngọc Vân và khi thấy ông chịu ảnh hưởng rõ rệt
tranh Inguimberty, người thầy mà chắc họa sĩ rất kính trọng, tôi càng
ngưỡng mộ hơn vì ông đã tiếp thu ảnh hưởng Pháp rất tài tình để tạo nên
hình ảnh người phụ nữ Việt Nam của cả một thời. Có vẻ như nghịch lý
nhưng nếu không dung hợp được nhiều nguồn ảnh hưởng thì không thể thành
tác giả lớn. Vì thế có kẻ gọi đùa Picasso là “tên trộm thiên tài”. Còn
Picasso đùa lại rằng: “Tôi không tìm mà tôi thấy!”.
Tất nhiên với các người cùng thời, cùng khuynh hướng thì chuyện ai ảnh
hưởng ai thành ra “tranh chấp bản quyền”. Braque hay Picasso là “cha
ruột” của chủ nghĩa lập thể? Nhóm Cái cầu nổi tiếng tan vỡ chỉ vì
Kirchner in một hồi ký nhận mọi “phát minh” của nhóm này về mình.
Pissaro hiền từ không được các bạn trẻ hơn và giới phê bình đánh giá
cao nhưng cả ông và họ đều biết các họa sĩ ấn tượng chịu ảnh hưởng lớn
từ ông. Lịch sử và thời gian sẽ xác nhận sự thật ai ảnh hưởng ai nhưng
quan trọng hơn vẫn là ai là tác giả lớn. Quyền được ảnh hưởng là một
phần của quá trình trở thành nghệ sĩ.
Copy: đường tắt tới phong cách, tiền và danh?
Copy
lại là một chuyện hoàn toàn khác. Ngay lần đầu tiếp xúc với tác phẩm
của các “họa sĩ trẻ” như Trương Tân, Ly Hoàng Ly, Văn Ngọc, Vũ Thăng
hay Lý Trần Quỳnh Giang, Nguyễn Sơn... tôi đã thấy cái riêng sáng tạo
của họ dù dễ dàng nhìn ra các nguồn ảnh hưởng mà họ đang say mê. Nếu
ảnh hưởng là sáng tạo và say mê, bất vụ lợi thì copy là sao chép thiếu
sáng tạo và vụ lợi, ngược hoàn toàn với bản chất nghệ thuật. Cấp cao
nhất của copy là sự ảnh hưởng “vô tư”, bắt chước người khác mà không
biết. Những chi tiết, mô-típ, bố cục, những hình thể, những kỹ thuật...
tất cả đều có thể coi là copy nếu ta không thấy trên tác phẩm cái “thần
thái riêng”, cái “vị” riêng hấp dẫn. Trong quá trình học tập điều đó
tưởng như vô hại nhưng lại nguy hiểm vì chúng sẽ làm thui chột những
năng lực cá nhân còn tiềm tàng nơi người nghệ sĩ trẻ. Sự nhàm chán của
các triển lãm phong trào là ở chỗ tác phẩm cứ giống nhau, không riêng
biệt ra được, cứ như copy lẫn nhau mà không biết. Lỗi ở đây là sự thiếu
dũng cảm, thành thật và năng lực thật có của nghệ sĩ.
Van Gogh từng vẽ lại rất nhiều tranh khắc Nhật Bản bằng sơn dầu, kể cả bức Hoa diên vĩ nổi
tiếng mà rất sáng tạo. Cùng thời đó có một triển lãm của các họa sĩ
khác cũng mê tranh khắc Nhật làm cho một nhà phê bình phải kêu lên: “Tôi thấy toàn Utamaro!”. Chắc rằng họ đã copy họa sĩ Nhật kia nên ngày nay ta không tìm thấy tên tuổi họ nữa.

Tranh của bộ tứ: Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm
(từ trên xuống dưới, từ trái qua phải)
Mức thứ hai của copy là copy chính mình vì nhu cầu
thị trường. Điều này phổ biến ở ta vì thị trường non yếu, giới sưu tầm
chưa “sành điệu”, trả giá rẻ, nên người mua sẵn sàng mua một tranh
giống nhiều tranh khác của tác giả nào đó treo cho “vui nhà”, trang trí
nội thất kinh doanh hoặc làm kỷ niệm một lần tới Việt Nam. Thị trường
này chấp nhận sự copy, giống nhau, vốn là điều tối kỵ của thị trường
cao cấp, chuyên nghiệp và giới sưu tầm có trình độ và tình yêu nghệ
thuật.
Thứ cấp tiếp theo là copy phong cách của các họa sĩ
được thị trường ưa chuộng, chế ra các tranh nhái theo phong cách của họ
và bán rẻ hơn. Đó là cách làm ăn chụp giật trong một thị trường không
chuyên. Các gallery thương mại của ta ngày càng mất sức hút vì đi đâu
cũng gặp các tác giả ấy, tác phẩm ấy, “phong cách” ấy.
Thứ cấp
nữa là chép tranh mà pháp luật không cho phép, lấy bản sao làm bản thật
và làm tranh giả, tức vẽ phỏng theo các tranh thật và giả mạo chữ ký.
Đó là gian lận thương mại có thể bị xử lý theo pháp luật.
Chuyện
copy này không hiếm trên thế giới nhưng không ở đâu lại phổ biến và dễ
dãi như ở ta với cả các tác giả mới mất hay còn sống mà giá tranh còn
đang là quá thấp so với thị trường quốc tế! Tệ nạn này rất tai hại cho
sự phát triển của thị trường nghệ thuật lành mạnh và việc hội nhập của
thị trường Việt Nam vào thị trường quốc tế đỉnh cao vì làm mất uy tín
văn hóa, mất niềm tin và hứng thú của giới sưu tầm và buôn bán nghệ
thuật. Tóm lại, copy là phi nghệ thuật. Tưởng như là đường tắt tới
phong cách, tới tiền và danh nhưng thực ra lại là đường vòng nguy hiểm
cho bản thân đương sự và cộng đồng. Tiếc thay nó lại đang là một nét
“đặc trưng” mà ai cũng thấy trong sinh hoạt nghệ thuật nước ta.
Bài 2: Ai "nhái" ai?
Nguyễn Quân (Theo Thể Thao & Văn hóa Online)
Copyright 2007. All Rights Reserved. |