Bộ
sưu tập mang tên “Tranh thờ đạo giáo Việt Nam” này gồm gần 200 bức
tranh thờ của các dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Dao, Kinh, Sán Dìu, Tày -
Nùng, được lựa chọn từ gần 1.000 bức tranh thờ của chủ nhân bộ sưu tập.
Có thể nói, đây là sưu tập tranh thờ đầu tiên của người Việt Nam được tổ chức triển lãm.
Có lẽ “Tranh thờ đạo giáo Việt Nam” là bộ sưu tập
tranh thờ các dân tộc Việt Nam đầu tiên đạt được tiêu chí về sự phong
phú, nên mang một hơi ấm cho mỹ thuật Việt. Người xem lần đầu được
thưởng lãm sự phong phú về thể loại, cũng như sự khác biệt về phong
cách trong tranh thờ của các dân tộc.
Tranh thờ được coi là vật linh thiêng với các qui
tắc bảo vệ rất chặt chẽ: Các họa công vẽ trong một không gian riêng, nữ
giới không được có mặt và phải làm lễ trước khi sử dụng. Tranh thờ
thuộc sở hữu của thầy Tào và chỉ khi đủ các nghi lễ trọng thể mới được
mở tranh. Cúng xong, lại phải làm lễ thu hồi âm binh thần tướng trở lại
trong tranh, rồi cuộn lại cất đi... để có được bộ tranh thờ này, ông
Phạm Đức Sỹ đã phải lăn lộn gần 10 năm ở các vùng núi phía Bắc.
Ông cho biết: “Tôi sưu tầm tranh thờ ngoài ý nghĩa
tâm linh, ý nghĩa giáo dục, còn mong muốn lưu giữ những giá trị văn
hóa, nghệ thuật độc đáo của bà con các dân tộc”.
Ở phía Bắc, chỉ có các dân tộc: Cao Lan - Sán Chỉ,
Dao, Kinh, Sán Dìu, Tày - Nùng là có tranh thờ và bộ sưu tập này đã có
đủ cả. Các bức tranh thể hiện sự đa dạng về phong cách, loại hình: cầu
dài, cầu dọc, có bức dài tới 13,8m như bức Thiên Thượng đồ của người
Sán Dìu, có bức lại chỉ 20cm, trong đó, hầu hết độc bản nên rất quí
hiếm.
 |
|
Bộ tranh thờ của người Sán Dìu có tới 32 bức, người
Dao đỏ có hơn 20 bức, bộ của người Tày - Nùng cũng tới 10 bức, người
Kinh 3 bức... đặc biệt, có một bức được sáng tác từ năm 1815 với các
nét tản vân đặc trưng của thời hậu Lê. Có thể hình dung được nét văn
hóa truyền thống của các dân tộc qua bộ tranh, cũng như nhận diện được
bước đi của nghệ thuật hội họa trên một chặng đường dài. Các nét vẽ hồn
nhiên của các thầy cúng người Sán Chỉ, cũng có những nét vẽ sắc sảo mà
mềm mại của họa sư người Trung Quốc hay nghệ nhân đông Hồ, Hàng Trống…
Chất liệu tranh thờ rất đa dạng: giấy dó, giấy xuyến chỉ của Trung
Quốc, giấy thủ công làm từ lá dâu tằm... Hầu hết các bức tranh đều có
màu sắc tự nhiên, do màu vẽ được chắt lọc từ thiên nhiên: màu đỏ của
sỏi son, màu vàng từ hoa hòe, gỗ vang, màu đen của than tre và màu xanh
từ lá cây...
Tranh thờ mang sắc thái và giá trị thẩm mỹ đặc trưng
của từng dân tộc, với nội dung phong phú và tính dân gian nổi trội. Dễ
dàng nhận ra trong tranh các tín ngưỡng, tư duy và hành xử trong cuộc
sống của đồng bào dân tộc. Tranh thờ có bố cục hẹp, nhiều màu sắc, rất
sáng tạo và hết sức gần gũi với cuộc sống đời thường.
Trong tranh thờ, không có giới hạn về không gian,
thời gian, mà thực chen với ảo, con người xuất hiện bên cạnh thần linh,
ma quỷ. Giới chuyên môn cho rằng, đây chính là thành công trong tư duy
sáng tác của các họa công tranh thờ. Bộ tranh thờ trong Thánh đạo Hưng
Long của người Sán Dìu - Cao Lan có cả sinh hoạt của người sống lẫn
người chết, bộ Thập điện của người Kinh lại nghiêng về những hình ảnh
mà con người sẽ phải trải ở địa ngục, như những lời răn dạy có ý nghĩa.
Có một điều đáng lưu tâm, trong số các tranh thờ sưu
tập được, đa phần của các dân tộc thiểu số, còn của người Kinh lại rất
ít. Điều này cũng phản ánh một thực tế là chúng ta chưa có ý thức giữ
gìn tranh thờ như nét văn hóa dân gian truyền thống.
Ông Lương Xuân Đoàn, Phó vụ trưởng Vụ Văn hóa Văn
nghệ, Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “Tranh thờ các dân tộc là một
di sản văn hóa trong mỹ thuật cổ Việt Nam, giống như các dòng tranh dân
gian Đông Hồ, Hàng Trống, nên mang những giá trị riêng. Dòng tranh này
là sự xác lập tín ngưỡng của người Việt, cũng chính là văn hóa Việt,
nên mang ý nghĩa tinh thần, tượng trưng cho một đức tin.
Bộ sưu tập này rất đáng quí, vì góp phần lưu truyền
những giá trị dân gian truyền thống! Hy vọng rằng, sau triển lãm tranh
thờ, mọi người sẽ lưu tâm nhiều hơn đến nét văn hóa truyền thống độc
đáo, đầy bản sắc này của các dân tộc Việt Nam”./.