Kho báu vô giá
Buổi khai mạc triển lãm đầu tiên của mình, cũng là triển lãm hiếm hoi của một người không
thuộc chuyên ngành hội hoạ, Phạm Đức Sĩ có vẻ rụt rè đứng giữa những tên tuổi
lớn của giới mỹ thuật: những hoạ sĩ, những nhà phê bình, nhà nghiên cứu... Và
anh thợ mộc ấy đã rơi nước mắt xúc động, khi nghe những đánh giá hết sức trân trọng
mà người trong giới dành cho mình, trước quy mô đáng nể của triển lãm, một phần
của bộ sưu tập đồ sộ anh đã dày công tìm hiểu, sưu tầm trong hơn chục năm trời
qua. Vượt qua cả những con số, ý nghĩa về văn hoá, tâm linh và tín ngưỡng vô
cùng quý giá của những bức tranh thờ ấy mới là điều làm nên giá trị của triển
lãm.
Một góc triển lãm.
Triển lãm đầu tiên của Phạm Đức Sĩ, bao gồm
khoảng 120-150 bức tranh thờ Đạo giáo và Phật giáo, được sưu tầm trong hơn 10 năm trời,
phần lớn từ đồng bào các dân tộc như Tày, Nùng, Dao, Dáy, Sán Chỉ... cùng một số bộ
tranh thờ của người Kinh. Đây chỉ là một phần của gần 400 bức tranh trong cái
“kho” ở căn nhà phố Bát Đàn của anh. Trong số các bộ tranh này, nhiều bức do chính
những nghệ nhân ở làng tranh Đông Hồ đi vẽ thuê cho người dân tộc.
Phần lớn tranh trong bộ sưu tập của mình, anh có thể “nhìn” ra niên đại nhờ
kinh nghiệm và những “bài học” đã từng trải qua trong cả thập niên tìm hiểu
tranh, nhưng cũng chưa đủ tự tin để khẳng định chính xác, chỉ một vài bộ có
“binh văn” – chú giải cụ thể rõ ràng về niên đại, tác giả, tranh thờ của dân tộc
nào và thờ ai.
Bức "Tả biên thiên binh công tào".
Bộ sưu tập của anh, được nhà phê bình Phan Cẩm Thượng đánh giá rất cao, với
những bài viết đăng trên báo, lời giới thiệu trong cuốn sách in toàn bộ số tranh
và giới thiệu trong triển lãm. Ông cho rằng, Phạm Đức Sĩ là một bậc thầy về
tranh thờ, với kiến thức rất phong phú về lĩnh vực này. Đây là điều đáng ngạc
nhiên và trân trọng đối với một người không thuộc lĩnh vực hội hoạ như Phạm Đức
Sĩ.
Phạm Đức Sĩ sinh năm 1967, vốn là một thợ mộc với biệt danh Sĩ “mộc”. Công việc chính của
anh là đóng khung tranh và bục tượng cho các bài thi tốt nghiệp của sinh viên
trong trường cùng các triển lãm khác. Trước đây, cũng từng có một vài người kinh
qua công việc này tại ĐH Mỹ thuật nhưng đều không trụ lại lâu. Chỉ đến khi Phạm
Đức Sĩ vào làm, chất lượng, sự khéo léo cũng như gu thẩm mỹ của những khung
tranh đã chinh phục người trong giới. Rồi cũng xuất phát từ công việc liên quan
đến hội hoạ này, mà anh nảy sinh lòng đam mê đối với những bức tranh, lại là
tranh thờ của đồng bào vùng cao.
Bức "Tương lai Phật".
Phạm Đức Sĩ kể, cơ duyên đưa anh đến với việc sưu tầm tranh thờ này bắt nguồn
từ một buổi đến thăm nhà một người bạn chuyên sưu tầm đồ gốm cổ, thấy có những
bức tranh thờ với nét vẽ, màu sắc rất cuốn hút, bèn mua một bộ về, tự bồi lại.
Bắt đầu từ những bức tranh đầu tiên đó, Phạm Đức Sĩ trở nên chú ý đến tranh thờ,
và để tâm tìm mua. Những bức tranh thờ, phần lớn anh mua lại của các hàng bán đồ
lưu niệm, của những người chuyên mua lại vật dụng cũ từ miền ngược, hoặc một số
nhà sưu tầm... Phạm Đức Sĩ cho biết, người dân tộc không bán tranh, họ chỉ đổi
tranh cũ lấy tranh mới, nên không có chuyện đến mua tranh mà được. Đối với họ,
bộ tranh thờ rất thiêng liêng, có những bộ niên đại lên tới hàng trăm năm nhưng
nhờ được giữ gìn bảo quản cẩn thận nên vẫn còn rất nguyên vẹn.
Nhà phê bình Phan
Cẩm Thượng cho biết, những bức tranh thờ trong bộ sưu tập của Phạm Đức Sĩ cho thấy
vốn văn hoá vô cùng phong phú của đồng bào vùng cao. Đạo giáo khi du nhập vào
Việt Nam đã có sự hoà nhập với đạo Mẫu và tín ngưỡng bản địa. Tất cả
những vị thần có trong Đạo giáo ở Trung Quốc, khi sang đến Việt Nam đều được
giữ nguyên trong các bộ tranh thờ, và thêm vào cả những vị thần bản địa, lên
tới khoảng 150 vị. Người dân tộc thiểu số lấy Đạo giáo làm đời sống tinh thần của mình.
Những hình tượng thể hiện trong tranh thờ vô cùng phong phú, điều này cho thấy khá rõ
nét lịch sử Đạo giáo trong đời sống đồng bào vùng cao.
Cảnh trừng phạt dưới địa ngục trong bộ "Thập điện
vương".
Tranh thờ có vị trí to lớn trong đời sống tâm linh của bà con, chẳng hạn như
đồng bào Dao, lễ cấp sắc được thực hiện trước những bức tranh thờ, nếu một người
chưa qua lễ này, sẽ chưa được coi là trưởng thành. Đời sống văn hoá phát triển,
tâm linh cũng phát triển theo. Những bức tranh thờ, trừ một số do các hoạ công
của làng tranh Đông Hồ thực hiện, còn lại do các thầy mo tự vẽ. Đáng chú ý, các
thầy mo phần lớn đều không được học hành, và đều vẽ theo nhận thức chủ quan của
mình, theo lời ông Phan Cẩm Thượng, đó là do “trời dạy”.
Nhà phê bình Phan Cẩm Thượng cũng cho biết, trong bộ sưu tập có cả những bức
tranh do hoạ sĩ Trung Quốc mang sang Việt Nam, chứng tỏ đã có sự giao lưu văn
hoá trong lĩnh vực vẽ tranh thờ.
“Chỉ là công việc bình thường thôi”
“Bình thường” là hai chữ hay gặp nhất trong những lời nói của Phạm Đức
Sĩ đối với kho tàng của mình. Anh cho biết, tất cả những điều này chỉ là theo
ý thích của mình. Làm việc, kiếm sống để nuôi gia đình và “nuôi” bộ sưu tập của
mình, đó là những việc theo anh rất bình thường.
Tuy nhiên, để đạt được điều bình thường đó đâu phải dễ. Phải có một quá trình
hàng năm trời để “thấm” cái đẹp. Từ đó mới bỏ công tìm hiểu, học về văn hoá và
thế giới tâm linh của đồng bào vùng cao. Phải đọc sách, đến các bảo tàng, phải
gặp và trò chuyện cùng các nhà nghiên cứu, nhà sưu tập. Phải có đam mê, thời
gian, công sức, tiền bạc và kiến thức... Đó là điều mà nhà sưu tập “tay ngang”
Phạm Đức Sĩ đã tích luỹ được hơn chục năm trời qua, cùng với bộ sưu tập của
mình.
Ngài Đại sứ Mỹ Michael Michalak tại triển lãm.
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak nhận xét: “Đây thực sự là một triển
lãm ấn tượng, một cơ hội quý để chiêm ngưỡng những bức tranh thờ quý giá. Triển
lãm này cho thấy sự phong phú về văn hoá, tín ngưỡng, những giá trị vô giá mà
những người thế hệ trước để lại cho con cháu. Khó có thể tin được những bức
tranh này thuộc về người dân tộc vùng cao. Họ có những đề tài phong phú để nói,
trong đó nhiều bức có ý nghĩa ngay cả trong xã hội ngày nay”.
Những bức tranh thờ hiện nay được Phạm Đức Sĩ cất giữ trong những chiếc hộp
gỗ, tại căn nhà nhỏ ở phố Bát Đàn của mình. Căn nhà hiện nay đóng cửa để đấy, và
mỗi lần “nhớ” tranh, anh lại đảo về thăm. Mong muốn lớn nhất của anh hiện nay là
sẽ tổ chức được một triển lãm như thế này ở nước ngoài, “để họ thấy được sự
phong phú và vẻ đẹp trong thế giới tâm linh của người Việt
Nam”.