|
Có những cuộc thảo luận dai dẳng ở quy mô khổng lồ về định nghĩa chủ
nghĩa hiện thực. Vào một thời đại mà hình thức nghệ thuật có sự đột phá
ở nhiều khía cạnh, nhiều bình diện, sự cắt đứt với quá khứ, doạ từ bỏ
không dựa lưng vào truyền thống, nhất định phóng ra ngoài cái bóng đổ
vĩ đại của các nền văn hóa cổ… vấn đề này càng trở nên phức tạp. Một
phái cho rằng chủ nghĩa hiện thực có từ thời cổ đại. Một phái nữa làm
văn tự khai sinh cho nó vào thời Phục Hưng. Một phái thứ ba bảo chủ
nghĩa hiện thực là một trào lưu của nửa cuối thế kỷ 19.
Người ta
thường nói chủ nghĩa hiện thực dùng hình thức của chính đời sống để mô
tả đời sống. F. Engels được tách đi trích lại ở một câu nổi tiếng về
"tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình".
Trước hết phải
phân biệt phẩm chất hiện thực với trào lưu xu hướng phong cách có tên
là "hiện thực chủ nghĩa" của một giai đoạn lịch sử nào đó. Theo nghĩa
thứ hai này chủ nghĩa hiện thực của Rembrandt ở Hà Lan hay D.Velázquez
ở Tây Ban Nha thế kỷ 17 là một hiện tượng của lịch sử mỹ thuật nó hoàn
toàn phụ thuộc vào lịch sử. G.Courbet, Repin, A.Menzel. . . đều đã đi
vào dĩ vãng với tư cách là một trào lưu của thế kỷ 19. Chưa khi nào các
xu hướng, trường phái này là toàn bộ nghệ thuật của một thời đại - dù
có khi nó lan lấn rất rộng trong các phong cảnh nghệ thuật từng thời
nào đó. Như vậy cũng không thể xâu các nhà điêu khắc Hy Lạp tạc tượng
các võ sĩ và vận động viên điền kinh, các họa sĩ Phục Hưng vẽ gia đình
thánh, chúa Jésu và các tông đồ, các họa sĩ Hà Lan vẽ cảnh trong nhà,
người ăn mày, Goya vẽ cảnh "xử bắn những người nổi dậy", Courbet vẽ
"Những người đập đá", Repin với cảnh kéo thuyền trên sông Vonga" và các
họa sĩ Mê-hi-cô hiện đại, các họa sĩ Nga Xô-viết thành một chuỗi bằng
một sợi chỉ đỏ có tên là "hiện thực chủ nghĩa". Mặc dù có những điểm
giống nhau, các trào lưu xu hướng, phong cách của các tác giả này rất
khác nhau, độc lập nhau, không phải là kết quả của cuộc chạy tiếp sức,
"kiếp luân hồi", tái sinh vào hậu thế.
Trong nghệ thuật phương
Đông ở các sách sử nghệ thuật không hề có vấn đề này. Nghệ thuật Đường,
Tống, tranh khắc gỗ Nhật thế kỷ 18, 19, nghệ thuật Triều Tiên, Việt
Nam… có những vấn đề y hệt, vĩnh cửu như nghệ thuật châu Âu. Bản chất
sự phát triển nghệ thuật ở các nước "mặt trời mọc" này của thế giới
cũng chứa đựng những vấn đề nội dung của cuộc tranh luận hiện thực hay
không hiện thực, song rất ít khi và nhiều nơi chưa bao giờ có tranh
chấp về xu hướng, phong cách như trong mỹ thuật Âu châu theo tinh thần
trên. Tranh Đường, tranh Tống, phái văn nhân - họa với tranh sơn thủy
sẽ không thể xếp vào xu hướng lãng mạn, siêu thực, hiện thực hay
Baroque v.v... Ở các tác phẩm "Văn nhân - họa" có cái cô đơn dành cho
những người ưu tú của nghệ thuật lãng mạn, có cái cách thể hiện tinh
thần giàu biểu tượng sâu sắc kỳ ảo, nổi lên từ tiềm thức của siêu thực,
có cái gần gũi, chân thực đến cảm động của phái hiện thực. Xếp đặt như
vậy không khác nào xếp thể loại Hoa điểu hay Thảo trùng vào tranh phong
cảnh hay tĩnh vật.
Các quan niệm về thời gian ra đời của chủ
nghĩa hiện thực nêu trên gặp một mâu thuẫn: đó là sự không đồng nhất
quan niệm suy xét. Đây là thế giới quan, là thái độ nghệ thuật hay hình
thức thể hiện, hay là trào lưu nghệ thuật gắn bó với một trào lưu tư
tưởng cụ thể nào đó của lịch sử. Và cả ba quan niệm trên đều muốn xâu
chuỗi theo trục lịch sử những biểu hiện nghệ thuật mà họ cho rằng có
điểm giống nhau.
Nếu nói chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu
nghệ thuật thì đó là sản phẩm lịch sử cụ thể của tiến trình phát triển
của nghệ thuật Âu châu và gắn chặt với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Nó là trường phái hiện thực thế kỷ 19 với Courbet, Repin… và việc truy
tìm gốc rễ của trào lưu này xa xưa hơn nữa là vô ích. Raphael và
Michelangelo không dính líu gì tới xu hướng này. Cả Rembrandt và Goya
cũng vậy - Những người khổng lồ của Goya và những cảnh đầy bí ẩn, huyền
hoặc không gần gũi gì với những cô gái và công nhân của Courbet bao
nhiêu và sự ảnh hưởng của các bậc thầy với các thế hệ sau là tất nhiên.
Giới
hạn trong một trào lưu một xu hướng nghệ thuật cụ thể ta mới có lý để
bàn tới hình thức thể hiện của họ. "Mô tả đời sống bằng hình thức của
chính nó" - Câu này chồng khít lên thực tế sáng tác của các tác giả
thuộc xu hướng hiện thực này. Tuy nhiên đó chỉ là sự chồng khít theo
nghĩa hẹp. "Còn tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình" chỉ có
nghĩa với các tác phẩm và thể loại có nhân vật. Quá lắm thì nó đúng với
một phần chân dung hay sinh hoạt tức hai thể loại có chất mô tả và cốt
truyện có thể mô tả và kể lại bằng ngôn từ. "Tính cách" và "hoàn cảnh"
không có nghĩa gì với tĩnh vật, phong cảnh hay thể loại bán thân trong
điêu khắc chẳng hạn. Nhiều nhà lý luận tìm cách mở rộng đến cùng khái
niệm "tính cách" và "hoàn cảnh" ra đến mỗi thể loại để cãi lấy được cho
câu nói của F.Engels vốn chỉ nói về tiểu thuyết. Họ quên mất rằng hai
khái niệm trên gắn với một suy đoán về quan hệ nhân quả mà khả năng bộc
lộ quan hệ nhân quả của âm nhạc hay mỹ thuật là vô cùng hạn chế. Vẽ
tranh sinh hoạt tả kể thực ra cũng là một vấn đề hình thức để bộc lộ
tình cảm và tư tưởng nghệ thuật chứ cái "hoàn cảnh" và các "tính cách"
chẳng bao giờ là mục đích và chức năng của mỹ thuật và âm nhạc.
Nếu
coi chủ nghĩa hiện thực như một xu hướng tư tưởng mỹ học - nghệ thuật,
một vấn đề của thế giới quan thì ta có thể bổ dọc lịch sử mỹ thuật và
tìm nguồn gốc của nó từ xa xưa hơn thời Hy Lạp cổ điển rất nhiều. Những
bức tranh hang động rõ ràng là hiện thực… Cảnh nhảy múa trên trống đồng
Đông Sơn cũng rất hiện thực. Tại sao ta gọi chúng là hiện thực trong
khi những hình hình học của họ, những hoa văn trừu tượng của họ - cũng
do chính họ làm ra song không ai gọi là hiện thực.
Hiện thực
hiểu theo nghĩa này có hai hạt nhân. Và hai tế bào mầm giống này cứ
sinh sôi nảy nở suốt trong lịch sử mỹ thuật tạo ra nhiều bậc thầy vĩ
đại (chứ không phải tất cả các bậc thầy vĩ đại) của lịch sử.
Đó là:
-
Xu hướng chăm chú vào đời sống thực tại. Con mắt người ta nhìn xuống
luống cầy, nhìn cái sân nhà, nhìn con chim, con nai mà họ săn bắt, nhìn
người ăn mày và người đàn bà, nhìn vào những mâu thuẫn và cái khổ của
kiếp người: cảnh tra tấn, xử bắn, treo cổ, cái tường nhà cũ, sự nghèo
khốn, cái mũi quá to, bộ ngực quá lép kẹp của một thiếu phụ già trước
tuổi… Sự chăm chú và đề cao đời sống của thế giới bên này - chứ không
phải nhằm vào thiên đường hay cảnh "bờ xôi ao mật" trong tưởng tượng -
làm cho chủ nghĩa hiện thực mở rộng tầm mắt vào cái kề cận chúng ta
nhất. Nó phát hiện ra cái trước đây chưa được coi là đẹp nay được nâng
lên thành cái đẹp. Nâng chính chúng lên chứ không phải tô vẽ thêm hoặc
mở rộng thêm cho đôi giày rách, cái cửa sổ cũ, cái bình vỡ, cái mũi to,
làn da nhăn nheo của một ông già, cái nạng gỗ của bọn què cụt… trở
thành "đẹp". Chính những cái xấu xí đó được nhìn nhận là đẹp. Chủ nghĩa
hiện thực có công nhất ở chức năng "biết cái xấu thành cái đẹp" này.
Điều này làm cho các bậc thầy theo chủ nghĩa hiện thực hay dùng hình
thức "của chính đời sống" với tư cách là phương tiện mô tả. Những câu
chuyện kinh thánh ở Raphael biến thành nỗi dịu ngọt như trái cam chín
của đời sống an bình, của tình mẫu tử bình dị nhất, ở Michelangelô
chúng biến thành sự quằn quại đầy xung đột và cao hơn nữa thành một
tổng thể hài hòa của các mâu thuẫn thời đại ông. Không có "các con
người cụ thể" mà tranh của hai ông cho ta thấy rõ hai mặt đối lập của
thời đại Phục Hưng thật rõ ràng. Goya đã dùng những ma quái khổng lồ để
miêu tả cái nóng nực quằn quại của kiếp người và của lịch sử cụ thể
thời ông để đạt cùng một hiệu quả như bức "Xử bắn những người nổi dậy"
có hình thức của chính đời sống.
- Từ xu hướng quay về thế
giới bên này - khẳng định giá trị của đời sống không bằng cách làm cho
nó hấp dẫn hơn mà bằng cách phơi bày nó trần trụi nhất, bình dị nhất,
chủ nghĩa hiện thực mang nội dung nhân đạo sâu sắc. Tính nhân đạo là tế
bào mầm giống thứ hai của chủ nghĩa hiện thực. Từ các tranh hang động,
tượng của các bộ lạc dã man, đến các bậc thầy hiện thực hôm nay, ta
luôn thấy thái độ đề cao con người, khẳng định con người ở trạng này
hay dạng khác. Đỉnh cao mà con người được đưa lên thành toàn cục, bóng
của nó chồng khít lên vũ trụ vĩ mô là thời Hy Lạp cổ điển và thời Phục
Hưng. Ở tranh Đường và tranh Tống con người chồng khít lên vũ trụ bằng
cách hòa làm một với nó. Ở phương Tây con người tìm cách chế ngự, ở
phương Đông họ tìm cách hòa hợp - cả hai đều chấp nhận sự tuần hoàn
biến đổi luôn luôn là bản chất của vũ trụ. Tuy nhiên việc đề cao con
người, cái con người của chủ nghĩa hiện thực không khi nào ràng buộc họ
trở thành anh hùng, siêu nhân hay những người được tuyển lựa. Hướng về
con người bình thường, vào đời sống bình thường tự tại, vào những khát
vọng và mơ ước bình thường của họ là bản chất nhân đạo của chủ nghĩa
hiện thực. Phần phát vọng và mơ ước của chủ nghĩa hiện thực hay bị các
nhà lý luận thiển cận gạt bỏ mặc dù đó cũng là đoạn đường của chủ nghĩa
hiện thực. Lấy thế giới bên này và con người làm xuất phát điểm là chủ
nghĩa hiện thực. Xuất phát từ những cao vọng, lấy một cái gì đó ngoài
đời sống bên này làm cứu cánh, lấy một cái siêu nhiên hay một đám người
cô đơn, được tuyển lựa làm điểm tựa là chiều đi của nghệ thuật phi hiện
thực. Phơi bày cái xấu xa hay đen tối của con người để hiểu biết nó, để
biến cải nó là hiện thực chủ nghĩa.
Chính ở chỗ này ta thấy chủ
nghĩa hiện thực không hạn hẹp và không gắn với hình thức hữu hiệu cụ
thể nào. Ở mỗi thời hai tế bào giống nói trên kết hợp với nhau và đẻ ra
các hình thức khác nhau, phong cách và xu hướng khác nhau. Những kẻ hẹp
hòi gạt bỏ ước mơ và khát vọng của con người ra khỏi chủ nghĩa hiện
thực và quên mất rằng giấc mơ, những mơ ước hão huyền nhất, bầu trời
tầng sao và nỗi đau vũ trụ của nó cũng là một phần của đời sống hiện
thực. Những kẻ tầm thường gắn chủ nghĩa hiện thực với một thứ tự nhiên
chủ nghĩa tầm thường và thực chất là suy đồi và hàn lâm lạc hậu. Lối
quan niệm này kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực một cách
tai hại - làm cho tác phẩm dính lưng với những biểu hiện bề mặt, tản
mạn, tủn mủn và vô hồn - làm cho tác phẩm lạch bạch trên mặt đất thấp
lè tè, nhốt chủ nghĩa hiện thực vốn rộng rãi và cao cả vào những khuôn
sáo, sơ đồ cứng nhắc. Một quan niệm nữa tai hại không kém là coi chủ
nghĩa hiện thực ngày nay là kẻ kế thừa trực tiếp xu hướng hiện thực thế
kỷ 19. Quan niệm này dẫn đến việc mô tả tầm thường không đạt tới đỉnh
cao như các bậc thầy kể trên vì nhiệm vụ của nghệ thuật, thực tại đời
sống đã đổi khác.
- Những biến dạng èo ợt của nó đã dùng các
thủ pháp của chủ nghĩa ấn tượng, của Cézạnne, Van Gogh hay P.Gauguin
theo kiểu xu hướng hiện thực thế kỷ 19. Kết quả là các tác phẩm này
càng vay mượn, sao chép hơn. Hình thức cũ hạn hẹp không chứa nổi nội
dung mới và biến thành một thứ kinh viện nhạt nhẽo. Tất cả các phương
pháp, vốn được các bậc thầy xa xưa hơn nữa sử dụng bị lãng quên. Mặt
khác tất cả các thành tựu mới của nghệ thuật Âu châu sau cách mạng
tháng Mười bị đẩy sang phía địch - bị ném vào cái xó "tư sản phương
Tây". Nửa thế kỷ đã qua mà người ta còn tranh cãi là các thành tựu biểu
hiện, vị lai, lập thể, dã thú, siêu thực, các nhà điêu khắc như A.
Giacometti, Brancusi… có thuộc vào di sản văn hóa chung không? Có thuộc
vào những truyền thống nghệ thuật có thể kế thừa và phát huy hay không?
Sự phát triển nghệ thuật đương đại đã chứng minh những quan niệm lầm lạc trên là ấu trĩ.
Lịch
sử cũng đã chứng minh rằng vào những thời kỳ mà xã hội có nhiều biến
động to lớn về đời sống vật chất và đời sống tinh thần thì tư tưởng
nghệ thuật hiện thực cũng mạnh lên, cũng bao trùm thời đại. Thời của
chúng ta là một thời như vậy.
(Nguồn: Ghi chú về nghệ thuật - NXB Trẻ; baymau.net)
Copyright 2007. All Rights Reserved. |