Khỏa thân và các Hình thức biểu hiện của hội họa - hp 108 .04 62850131 (43)


Tranh phong cảnh - 284296830-7286b


Tranh phong cảnh - 41622074-20044b


Tranh Đông Hồ - HOCBAI - Tranh Dong Ho


Tranh phong cảnh - 846739369-27419b



 
Theo bạn, các tin tức trên hoapham108.net?
 
 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterNgày hôm nay271

Liên kết

Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Hello, you either have JavaScript turned off or an old version of Macromedia's Flash Player. Get the latest flash player.
Trang chủ arrow Thư viện arrow Tổng hợp kiến thức mỹ thuật arrow Danh hoạ Rubens: Người được các cung đình Châu Âu sủng ái
Danh hoạ Rubens: Người được các cung đình Châu Âu sủng ái
31/05/2009
Anh cua Cong An Nhan danDanh họa người Đức Peter Paul Rubens là một trong số rất ít họa sĩ có thể sống "thong dong" bằng nghề. Ông từng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng với những khoản tiền thù lao cực lớn. Tranh của ông có mặt ở hầu khắp nhà thờ Kito, trong tư thất của các bậc vua chúa các nước Tây Ban Nha, Italia, Anh, Pháp... Rubens luôn có cơ hội tỏa sáng, được suy tôn là "ông vua hội họa", là họa sĩ có ảnh hưởng đến mọi thời đại...

Nhận xét về Rubens, trong cuốn "Lịch sử hội họa", Wendy Beckett viết: "Rubens là người đặc biệt được số phận dành cho nhiều may mắn. Oai vệ và rất khỏe mạnh, ông lại là người thông minh và học thức, có thiên bẩm về ngoại giao và được các vua chúa châu Âu kính trọng. Rubens kết hôn hai lần, đều được hạnh phúc". Thật hiếm có họa sĩ nào thời Phục hưng lại được vị thần "may mắn" dành cho nhiều ưu ái đến như vậy.

Sau bốn năm học tại xưởng vẽ của họa sĩ Otto van Veen - một họa sĩ danh tiếng nhất mực tôn thờ nền Hội Họa Italia, khi hai mươi tuổi, Rubens đã được công nhận là thành viên chính thức của Hội Họa sĩ S. Luca ở thành phố Antwerp và được cấp giấy phép hành nghề. Vì thế Rubens mới có cơ hội sang Italia du lịch và trực tiếp nghiên cứu những kiệt tác của các họa sĩ nổi tiếng vùng Florence, Venice, Rome...

Rubens hầu như rất có "duyên" với những bậc vương tôn công tử và trong đời đã hoàn thành biết bao kiệt tác theo đơn đặt hàng của giới quý tộc. Những đơn đặt hàng đó, một mặt là cơ hội để người nghệ sĩ tỏa sáng, mặt khác mang lại thu nhập dồi dào để Rubens thỏa sức thực hiện những ý tưởng về nghệ thuật. Thêm vào đó, ông cũng rất có duyên với Giáo hội, do đó tranh khổ lớn của ông đã được treo trang trọng trong nhiều thánh đường của đạo Kito ở khắp các nước châu Âu. Điều đó giải thích vì sao suốt đời Rubens không bao giờ phải lo đến chuyện "miếng cơm, manh áo" như phần đông các họa sĩ cùng thời.

Thời gian ở Italia, Rubens đã nhận được cảm tình sâu sắc của vị Đại công tước xứ  Muntua là Vincenzo I Gonzaga. Vị đại công tước này yêu mến Rubens đến mức đã phái ông sang Tây Ban Nha dâng lễ vật. Trong chuyến đi này, Rubens nhận được một hợp đồng mới:  Vẽ bức "Công tước Lerma cưỡi ngựa" theo đơn đặt hàng của Công tước Tây Ban Nha. Sau khi được chiêm ngưỡng bức chân dung của Công tước Lerma, Đại công tước Vincenzo I Gonzaga tâm đắc đến mức đã ủy thác cho Rubens thực hiện một hợp đồng lớn có giá trị về nghệ thuật và kinh tế: Vẽ ba bức tranh sơn dầu trang trí bàn thờ của Hội Jesus tại Mantua. Đó là các bức "Vincenzo I Gonzaga và người nhà của ông Thánh đường Thánh Cha, Thánh Con và Thánh Thần", bức "Chirst nhận lễ rửa tội" và bức "Hành tung của Chirst".

Rời đất nước Italia tươi đẹp, ở vào tuổi "tam thập nhi lập", Rubens cho rằng đã "học hết mọi thứ có thể học" được từ hội họa Italia. Ông đã nhuần nhuyễn cách sử dụng cọ và sơn, cách vẽ tranh khỏa thân, các nếp y phục, nữ trang, muông thú và phong cảnh. Thêm vào đó, phong cách vẽ của Rubens rất phù hợp với việc tạo nên những tác phẩm đồ sộ, tráng lệ, huy hoàng của các lâu đài. Ông hầu như đã đạt tới sự độc quyền trong việc sáng tạo những bức tranh khổ lớn dùng trang trí trong nhà thờ, cung điện và tư thất của những gia đình quyền quý.

Sự kết thúc chiến tranh Tây Ban Nha - Hà Lan đã tạo ra rất nhiều cơ hội làm ăn mới cho Rubens. Nguyên do là trong chiến tranh, nhiều nhà thờ bị phá hủy cần xây dựng và trang trí lại. Nhiều gia đình có của ăn, của để đã vung tiền ra trang trí nhà cửa bằng những bức tranh sơn dầu. Hai bức tranh "Dựng lên cây thập giá" và "Hạ cây thập tự giá" của Rubens vẽ trong khoảng thời gian từ năm 1611 đến năm 1620 theo hợp đồng với nhà thờ St. Walburga được giới mỹ thuật đánh giá cao về phong cách nghệ thuật đã làm cho danh tiếng của Rubens càng bay xa. Ngay sau đó Hội Jesus tại Antwerp đã rất tin tưởng khi đặt ông vẽ luôn 39 bức tranh để trang trí giáo đường...

Ngày nay, trong Cung điện Louver còn lưu giữ một bộ sưu tập gồm 48 bức tranh của Rubens vẽ từ năm 1620 đến 1625, trong đó bức "Marie de Memicis" là nổi tiếng nhất. 48 bức tranh này được vẽ theo lời đề nghị của bà Hoàng thái hậu Memicis. Tập hợp 48 bức tranh đồ sộ đó được chia làm hai loại: một dành cho sự nghiệp của Hoàng thái hậu, một cho sự nghiệp của vị phu quân quá cố của bà là vua Henri IV. Bộ sưu tập tranh này có màu sắc rực rỡ, toát lên sự sa hoa, phù phiếm, vẻ đẹp huy hoàng và giàu sang của triều vua Henri IV. Nhà vua và các mệnh phụ cũng như các thần linh, thiên sứ, người nào cũng vàng bạc trang sức rực rỡ. Cảnh nhân gian và thiên đàng được Rubens thể hiện hết sức lộng lẫy.

Một tác phẩm của danh hoạ Rubens.

Để hoàn thành các đơn đặt hàng với số lượng lớn như thế, Rubens đã thuê một nhóm đông các họa sĩ tài năng và thu nhận một số đông học trò vào làm việc tại xưởng vẽ dưới sự chỉ dẫn của ông. Khi thực hiện những bức tranh lớn, Rubens thường chỉ vẽ một bản phác thảo nhỏ bằng sơn màu. Nhiệm vụ của các phụ tá và học trò trong xưởng vẽ của ông là đưa những ý tưởng ấy lên một khung vải lớn.

Có những bức tranh được những họa sĩ "trợ thủ" vẽ quá nửa. Khi các "trợ thủ" đã hoàn tất các ý tưởng chính của bức tranh, Rubens mới cầm cây cọ tô điểm cho khuôn mặt, quần áo hoặc trau chuốt những chi tiết tương phản nhằm "ban phát sức sống" cho mọi nhân vật trong tranh.

Trong các họa sĩ làm thuê cho ông, có những họa sĩ nổi tiếng như Jacob Jordaens và Van Dyk. Tuy nhiên, riêng về bố cục tranh, Rubens luôn tự tay phác thảo, những chỗ quan trọng trong bức tranh cũng do chính Rubens thực hiện. Những bức tranh được xử lý như thế, về phong cách đều được hình thành từ một cảm giác toàn diện, hoặt ít nhiều đều mang phong cách của Rubens. Bằng cách kết hợp tài nghệ vô song của mình với các "trợ thủ" trong những tác phẩm rực rỡ, Rubens đã đảm bảo cho mình một danh tiếng và sự thành đạt mà chưa một họa sĩ nào trước đó đạt tới.

Chưa đầy bốn mươi tuổi, nhờ nghề vẽ tranh, Rubens  trở thành vị khách danh dự của hầu khắp các cung đình châu Âu. Từ Công chúa Tây Ban Nha, Đại công tước Italia, Công tử nước Anh đến Hoàng hậu nước Pháp... đều là bạn thân của ông. Cùng với việc vẽ tranh, Rubens còn đóng vai một nhà ngoại giao, một sứ giả hòa bình - công việc chưa từng có một họa sĩ nào làm nổi.

Trong "gia tài" tranh của Rubens có một bức gây rất nhiều tranh cãi, bởi nó không thuộc "sở trường" của Rubens. Đó là bức tranh "Thần Minerva bảo vệ hòa bình", vẽ theo trường phái ngụ ngôn. Rubens vẽ bức tranh này làm quà tặng cho Quốc vương Charles I, với mong muốn Quốc vương này sớm hòa giải với Quốc vương Tây Ban Nha Philip V. Đúng như tên của bức tranh, ngoài giá trị nghệ thuật, "Thần Minerva bảo vệ hòa bình" còn đảm nhận một sứ mệnh cao cả: Sứ mệnh hòa bình. Được biết, Rubens vẽ "Thần Minerva bảo vệ hòa bình" trong thời gian để tang người vợ đầu là Isabenla Brabdt bị chết bởi dịch tả.

 Đối với phương Tây thế kỷ XVII, chuẩn mực cái đẹp của phụ nữ là sự mảnh mai. Thế nhưng, trong tranh của Rubens, những nhân vật nữ, từ công chúa, hoàng hậu, đến thiên thần... đều lõa thể, thân hình nở nang, đầy đặn, tràn đầy sức sống. Vì điều này, Rubens đã từng phải đối mặt với sự chỉ trích của người đương thời, song ông vẫn chung thủy với "bút pháp" của mình, bởi lẽ người vợ thứ hai của ông là Helena Fourment là mẫu người như thế.

Trước khi cưới Helena Fourment, năm 32 tuổi Rubens đã từng kết hôn với Isabella Brandt - một cô gái xinh đẹp thông minh. Sau khi Isabella qua đời, năm 53 tuổi, Rubens kết hôn cùng Helena Fourment. Khi lấy Rubens, Helena mới 16 tuổi, thân hình đầy đặn, trẻ trung. Nàng đã làm cho nhiệt tình sáng tác của Rubens hết sức sôi nổi, mang đến một bầu không khí say mê trước tuổi thanh xuân đối với một người sắp "ngả bóng về chiều". Hình ảnh của Helena Fourment xuất hiện khá nhiều trong tranh của Rubens. Ông vẽ cho Helena Fourment rất nhiều chân dung, khi mặc áo, khi lõa thể, nhưng nổi tiếng nhất là bức "Helena mặc áo lông" (1638).

Ngoài tranh chân dung và tranh tôn giáo, Rubens còn vẽ một số tranh phong cảnh. Tranh phong cảnh của Rubens chịu ảnh hưởng sâu sắc của tranh Titian - một họa sĩ ông vô cùng ngưỡng mộ, được sáng tác vào những năm cuối đời, ở ngôi biệt thự xinh đẹp được xây dựng ở quê hương. Đó thực sự là những năm tháng hạnh phúc nhất của cuộc đời họa sĩ bên người vợ trẻ trung.

Ngày 30/5/1640, Rubens qua đời tại nhà riêng ở Antwerp. Trước lúc lâm chung, Rubens đã chọn nơi chôn cất cho mình tại nghĩa trang nhà thờ St. Jacques. Ông đã vẽ một bức sơn dầu để tại phần mộ của mình mang tên "Con, Đức Mẹ và Thánh đồ". Màu sắc của bức tranh hòa dịu đan xen với những mảng sáng rực rỡ. Ông muốn gửi gắm vào bức tranh rằng nơi ông yên nghỉ là thiên đường của sự bình yên, là nơi ông hoàn toàn thanh thản để hưởng thụ vẻ đẹp vĩnh hằng sau một đời lao động không mệt mỏi  vì màu sắc cuộc sống. Đây là tác phẩm cuối cùng của danh họa Rubens

 

Mai Hiền (Theo Công An Nhân Dân)

Comments (0)add
Write comment
quote
bold
italicize
underline
strike
url
image
quote
quote
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley

Copyright 2007. All Rights Reserved.
busy
 
< Trước   Tiếp >
  Các tin khác: