Nhận
xét về Rubens, trong cuốn "Lịch sử hội họa", Wendy Beckett viết:
"Rubens là người đặc biệt được số phận dành cho nhiều may mắn. Oai vệ
và rất khỏe mạnh, ông lại là người thông minh và học thức, có thiên bẩm
về ngoại giao và được các vua chúa châu Âu kính trọng. Rubens kết hôn
hai lần, đều được hạnh phúc". Thật hiếm có họa sĩ nào thời Phục hưng
lại được vị thần "may mắn" dành cho nhiều ưu ái đến như vậy.
Sau bốn năm học tại xưởng vẽ
của họa sĩ Otto van Veen - một họa sĩ danh tiếng nhất mực tôn thờ nền
Hội Họa Italia, khi hai mươi tuổi, Rubens đã được công nhận là thành
viên chính thức của Hội Họa sĩ S. Luca ở thành phố Antwerp và được cấp
giấy phép hành nghề. Vì thế Rubens mới có cơ hội sang Italia du lịch và
trực tiếp nghiên cứu những kiệt tác của các họa sĩ nổi tiếng vùng
Florence, Venice, Rome...
Rubens hầu như rất có "duyên"
với những bậc vương tôn công tử và trong đời đã hoàn thành biết bao
kiệt tác theo đơn đặt hàng của giới quý tộc. Những đơn đặt hàng đó, một
mặt là cơ hội để người nghệ sĩ tỏa sáng, mặt khác mang lại thu nhập dồi
dào để Rubens thỏa sức thực hiện những ý tưởng về nghệ thuật. Thêm vào
đó, ông cũng rất có duyên với Giáo hội, do đó tranh khổ lớn của ông đã
được treo trang trọng trong nhiều thánh đường của đạo Kito ở khắp các
nước châu Âu. Điều đó giải thích vì sao suốt đời Rubens không bao giờ
phải lo đến chuyện "miếng cơm, manh áo" như phần đông các họa sĩ cùng
thời.
Thời gian ở Italia, Rubens đã
nhận được cảm tình sâu sắc của vị Đại công tước xứ Muntua là Vincenzo
I Gonzaga. Vị đại công tước này yêu mến Rubens đến mức đã phái ông sang
Tây Ban Nha dâng lễ vật. Trong chuyến đi này, Rubens nhận được một hợp
đồng mới: Vẽ bức "Công tước Lerma cưỡi ngựa" theo đơn đặt hàng của
Công tước Tây Ban Nha. Sau khi được chiêm ngưỡng bức chân dung của Công
tước Lerma, Đại công tước Vincenzo I Gonzaga tâm đắc đến mức đã ủy thác
cho Rubens thực hiện một hợp đồng lớn có giá trị về nghệ thuật và kinh
tế: Vẽ ba bức tranh sơn dầu trang trí bàn thờ của Hội Jesus tại Mantua.
Đó là các bức "Vincenzo I Gonzaga và người nhà của ông Thánh đường
Thánh Cha, Thánh Con và Thánh Thần", bức "Chirst nhận lễ rửa tội" và
bức "Hành tung của Chirst".
Rời đất nước Italia tươi đẹp,
ở vào tuổi "tam thập nhi lập", Rubens cho rằng đã "học hết mọi thứ có
thể học" được từ hội họa Italia. Ông đã nhuần nhuyễn cách sử dụng cọ và
sơn, cách vẽ tranh khỏa thân, các nếp y phục, nữ trang, muông thú và
phong cảnh. Thêm vào đó, phong cách vẽ của Rubens rất phù hợp với việc
tạo nên những tác phẩm đồ sộ, tráng lệ, huy hoàng của các lâu đài. Ông
hầu như đã đạt tới sự độc quyền trong việc sáng tạo những bức tranh khổ
lớn dùng trang trí trong nhà thờ, cung điện và tư thất của những gia
đình quyền quý.
Sự kết thúc chiến tranh Tây
Ban Nha - Hà Lan đã tạo ra rất nhiều cơ hội làm ăn mới cho Rubens.
Nguyên do là trong chiến tranh, nhiều nhà thờ bị phá hủy cần xây dựng
và trang trí lại. Nhiều gia đình có của ăn, của để đã vung tiền ra
trang trí nhà cửa bằng những bức tranh sơn dầu. Hai bức tranh "Dựng lên
cây thập giá" và "Hạ cây thập tự giá" của Rubens vẽ trong khoảng thời
gian từ năm 1611 đến năm 1620 theo hợp đồng với nhà thờ St. Walburga
được giới mỹ thuật đánh giá cao về phong cách nghệ thuật đã làm cho
danh tiếng của Rubens càng bay xa. Ngay sau đó Hội Jesus tại Antwerp đã
rất tin tưởng khi đặt ông vẽ luôn 39 bức tranh để trang trí giáo
đường...
Ngày nay, trong Cung điện
Louver còn lưu giữ một bộ sưu tập gồm 48 bức tranh của Rubens vẽ từ năm
1620 đến 1625, trong đó bức "Marie de Memicis" là nổi tiếng nhất. 48
bức tranh này được vẽ theo lời đề nghị của bà Hoàng thái hậu Memicis.
Tập hợp 48 bức tranh đồ sộ đó được chia làm hai loại: một dành cho sự
nghiệp của Hoàng thái hậu, một cho sự nghiệp của vị phu quân quá cố của
bà là vua Henri IV. Bộ sưu tập tranh này có màu sắc rực rỡ, toát lên sự
sa hoa, phù phiếm, vẻ đẹp huy hoàng và giàu sang của triều vua Henri
IV. Nhà vua và các mệnh phụ cũng như các thần linh, thiên sứ, người nào
cũng vàng bạc trang sức rực rỡ. Cảnh nhân gian và thiên đàng được
Rubens thể hiện hết sức lộng lẫy.
 |
| Một tác phẩm của danh hoạ Rubens. |
Để hoàn thành các đơn đặt hàng
với số lượng lớn như thế, Rubens đã thuê một nhóm đông các họa sĩ tài
năng và thu nhận một số đông học trò vào làm việc tại xưởng vẽ dưới sự
chỉ dẫn của ông. Khi thực hiện những bức tranh lớn, Rubens thường chỉ
vẽ một bản phác thảo nhỏ bằng sơn màu. Nhiệm vụ của các phụ tá và học
trò trong xưởng vẽ của ông là đưa những ý tưởng ấy lên một khung vải
lớn.
Có những bức tranh được những
họa sĩ "trợ thủ" vẽ quá nửa. Khi các "trợ thủ" đã hoàn tất các ý tưởng
chính của bức tranh, Rubens mới cầm cây cọ tô điểm cho khuôn mặt, quần
áo hoặc trau chuốt những chi tiết tương phản nhằm "ban phát sức sống"
cho mọi nhân vật trong tranh.
Trong các họa sĩ làm thuê cho
ông, có những họa sĩ nổi tiếng như Jacob Jordaens và Van Dyk. Tuy
nhiên, riêng về bố cục tranh, Rubens luôn tự tay phác thảo, những chỗ
quan trọng trong bức tranh cũng do chính Rubens thực hiện. Những bức
tranh được xử lý như thế, về phong cách đều được hình thành từ một cảm
giác toàn diện, hoặt ít nhiều đều mang phong cách của Rubens. Bằng cách
kết hợp tài nghệ vô song của mình với các "trợ thủ" trong những tác
phẩm rực rỡ, Rubens đã đảm bảo cho mình một danh tiếng và sự thành đạt
mà chưa một họa sĩ nào trước đó đạt tới.
Chưa đầy bốn mươi tuổi, nhờ
nghề vẽ tranh, Rubens trở thành vị khách danh dự của hầu khắp các cung
đình châu Âu. Từ Công chúa Tây Ban Nha, Đại công tước Italia, Công tử
nước Anh đến Hoàng hậu nước Pháp... đều là bạn thân của ông. Cùng với
việc vẽ tranh, Rubens còn đóng vai một nhà ngoại giao, một sứ giả hòa
bình - công việc chưa từng có một họa sĩ nào làm nổi.
Trong "gia tài" tranh của
Rubens có một bức gây rất nhiều tranh cãi, bởi nó không thuộc "sở
trường" của Rubens. Đó là bức tranh "Thần Minerva bảo vệ hòa bình", vẽ
theo trường phái ngụ ngôn. Rubens vẽ bức tranh này làm quà tặng cho
Quốc vương Charles I, với mong muốn Quốc vương này sớm hòa giải với
Quốc vương Tây Ban Nha Philip V. Đúng như tên của bức tranh, ngoài giá
trị nghệ thuật, "Thần Minerva bảo vệ hòa bình" còn đảm nhận một sứ mệnh
cao cả: Sứ mệnh hòa bình. Được biết, Rubens vẽ "Thần Minerva bảo vệ hòa
bình" trong thời gian để tang người vợ đầu là Isabenla Brabdt bị chết
bởi dịch tả.
Đối với phương Tây thế kỷ
XVII, chuẩn mực cái đẹp của phụ nữ là sự mảnh mai. Thế nhưng, trong
tranh của Rubens, những nhân vật nữ, từ công chúa, hoàng hậu, đến thiên
thần... đều lõa thể, thân hình nở nang, đầy đặn, tràn đầy sức sống. Vì
điều này, Rubens đã từng phải đối mặt với sự chỉ trích của người đương
thời, song ông vẫn chung thủy với "bút pháp" của mình, bởi lẽ người vợ
thứ hai của ông là Helena Fourment là mẫu người như thế.
Trước khi cưới Helena
Fourment, năm 32 tuổi Rubens đã từng kết hôn với Isabella Brandt - một
cô gái xinh đẹp thông minh. Sau khi Isabella qua đời, năm 53 tuổi,
Rubens kết hôn cùng Helena Fourment. Khi lấy Rubens, Helena mới 16
tuổi, thân hình đầy đặn, trẻ trung. Nàng đã làm cho nhiệt tình sáng tác
của Rubens hết sức sôi nổi, mang đến một bầu không khí say mê trước
tuổi thanh xuân đối với một người sắp "ngả bóng về chiều". Hình ảnh của
Helena Fourment xuất hiện khá nhiều trong tranh của Rubens. Ông vẽ cho
Helena Fourment rất nhiều chân dung, khi mặc áo, khi lõa thể, nhưng nổi
tiếng nhất là bức "Helena mặc áo lông" (1638).
Ngoài tranh chân dung và tranh
tôn giáo, Rubens còn vẽ một số tranh phong cảnh. Tranh phong cảnh của
Rubens chịu ảnh hưởng sâu sắc của tranh Titian - một họa sĩ ông vô cùng
ngưỡng mộ, được sáng tác vào những năm cuối đời, ở ngôi biệt thự xinh
đẹp được xây dựng ở quê hương. Đó thực sự là những năm tháng hạnh phúc
nhất của cuộc đời họa sĩ bên người vợ trẻ trung.
Ngày 30/5/1640, Rubens qua đời
tại nhà riêng ở Antwerp. Trước lúc lâm chung, Rubens đã chọn nơi chôn
cất cho mình tại nghĩa trang nhà thờ St. Jacques. Ông đã vẽ một bức sơn
dầu để tại phần mộ của mình mang tên "Con, Đức Mẹ và Thánh đồ". Màu sắc
của bức tranh hòa dịu đan xen với những mảng sáng rực rỡ. Ông muốn gửi
gắm vào bức tranh rằng nơi ông yên nghỉ là thiên đường của sự bình yên,
là nơi ông hoàn toàn thanh thản để hưởng thụ vẻ đẹp vĩnh hằng sau một
đời lao động không mệt mỏi vì màu sắc cuộc sống. Đây là tác phẩm cuối
cùng của danh họa Rubens