Không phải ngẫu nhiên mà bao đời nay người dân Việt
Nam
lưu truyền giai thoại vẽ giun với một nụ cười khoái trá đầy hãnh diện
trước giải pháp thông minh của Trạng Quỳnh khi giải bài toán các vua
chúa đặt ra.
Đây là một thắng lợi văn hóa
đích thực, tôn vinh trí tuệ dân gian, cho phép người nông dân cười giễu
tinh thần hàn lâm kênh kiệu của đám vua quan và nho sỹ khinh dân.
Trạng Quỳnh nhúng mười đầu
ngón tay vào nghiên mực không chỉ để vẽ giun, mà chính là để bôi xóa
giễu cợt những quy phạm của triều đình, giống như đám trẻ con say mê
graffic thích vẽ nguệch ngoạc lên tường những chỗ trang nghiêm nhất để
khẳng định mình.
Nhưng khi vẽ giun, Trạng Quỳnh
không phải là tín đồ của văn hóa Hip-hop chơi trò chơi "mỹ thuật tội
lỗi" của đám người trẻ tuổi hôm nay, mà ông đã chơi trò khỏa thân trí
tuệ một cách hợp pháp để lỡm những thế lực ra đề thi, lỡm cả những thí
sinh thật thà chúi mũi vào vẽ những con rồng, con phượng phức tạp,
nhiêu khê.
Thế nhưng, chiến thắng của
Trạng Quỳnh là một thắng lợi chính trị chứ không phải là một kỷ lục văn
hóa. Trạng Quỳnh buộc những người tổ chức cuộc thi phải trao giải nhất
cho mình vì ông biết tấn công vào cách ra đề mơ hồ của họ.
Đây là chiến thắng của ông
Trạng có tài biến báo ngôn từ, chứ không phải chiến thắng của ông Trạng
có tài hội họa. Nếu đề ra yêu cầu vẽ con vật cụ thể nào đó sau ba hồi
trống, thì Trạng Quỳnh không thể sử dụng sự láu cá của mình để giành
phần thắng.
Bí quyết của chiêu thức vẽ
giun là cụ thể hoá theo hướng đơn giản đến cùng cực bài toán văn hóa để
có thể hoàn thành nhanh nhất, giành lấy phần thắng. Có thể nói, giai
thoại vẽ giun với nụ cười thỏa mãn của dân gian tiềm tàng trong đó cũng
vô tình là lời tự thú về bản chất đơn giản hoá của tính linh hoạt Việt
Nam.
Căn nguyên văn hóa của chiêu thức Trạng Quỳnh
Người Việt có lẽ là một trong những dân tộc linh hoạt nhất hành tinh chúng ta. Tính linh hoạt Việt
Nam
thường được trình bày như là một phẩm chất mang bản chất sáng tạo và
phản giáo điều. Điều đó về cơ bản đúng, nhưng không bao quát hết bản
chất văn hóa và tính chất hai mặt của phẩm chất này.
Bản chất của tính linh hoạt đó
là văn hoá Việt tạo cho mỗi cá nhân trong cộng đồng một khoảng trống tự
do sáng tạo và định hình cái chung, tạo cho con người Việt Nam một
khoảng không bao la để triển khai sáng tạo cá nhân tham góp nhân cách
và trí tuệ của mình vào tiến trình cụ thể hoá các chuẩn mực xã hội.
Trong đời sống, người Việt coi
trọng tinh thần cụ thể. Thái độ coi trọng cái cụ thể xuất phát từ văn
hóa trọng tình. Với người Việt, mỗi con người cụ thể, mỗi đồ vật cụ thể
là một thế giới độc nhất vô nhị không thể nào thay thế cho nhau, vì mỗi
người mỗi vật đều bắt rễ sâu vào tình cảm cộng đồng theo một cách
riêng.
Vì thế, thằng Bờm lưu luyến
mãi cái quạt mo cụ thể của mình kiên quyết không đổi cho phú ông lấy ba
bò chín trâu xa vời trừu tượng. Bờm chỉ chịu đổi khi phú ông đưa ra một
nắm xôi cụ thể gần gũi, nó có thể cầm ăn. Ca dao Việt
Nam có không ít những câu khuyên con người ứng xử linh hoạt theo từng tình huống cụ thể.
Phương châm "Tùy" "Lựa",
"Liệu" ("Tuỳ mặt đặt tên, tuỳ tiền biện lễ", "Lựa lời mà nói", "Lựa gió
xoay chiều", "Liệu bò đo chuồng", "Liệu cơm gắp mắm"...) là phương châm
sống có bản chất thích nghi với cái cụ thể. Mỗi cá nhân phải tự mình
thăm dò từng cái cụ thể để sáng tạo ra những giải pháp, những ứng xử
phù hợp nhất.
Văn hoá Việt không áp đặt chi
tiết những quy chuẩn đạo đức và thẩm mỹ, nó nhường cho cá nhân, cho khu
vực địa lý và cho giới tính những mảnh đất sáng tạo riêng và chịu trách
nhiệm với sáng tạo này.
Trong nghệ thuật, người Việt
cũng dành cho cá nhân quyền sáng tạo tối đa trong những không gian ước
lệ, những quy ước thoáng đãng. Người diễn viên trên sân khấu chèo là
phù thuỷ không gian, anh ta làm công việc cụ thể hoá không gian trong
dòng chảy thời gian.
Anh ta vừa mới chia tay người
yêu ở sân đình, lượn một vòng với vài câu hát và điệu múa, không gian
ấy đã trở thành biển cả, núi cao. Theo động tác, lời ca, cái không gian
cụ thể được cất giấu, tàng hình bỗng hiện diện sinh động trước mắt ta
trên cái nền trắng của khoảng không ước lệ.
Người nghệ sĩ Việt
Nam
khi chơi đàn trong dàn nhạc cũng có một khoảng tự do riêng như vậy -
anh ta không bị câu thúc bởi các qui định chi tiết của tổng phổ như các
nghệ sĩ phương Tây trong truyền thống của họ. Anh ta tuỳ ý biến báo,
luyến láy, cụ thể hoá để bằng trực giác nghệ thuật tham góp vào âm
thanh tổng thể của cả dàn nhạc.
Tính ước lệ của tư duy nghệ
thuật đã tạo khoảng không gian thoáng đãng cho người nghệ sĩ cụ thể hoá
một cách sáng tạo, mỗi lúc một khác tuỳ theo cảm hứng, trực giác. Trực
giác nghệ sĩ đã giúp anh ta thăm dò mỗi khoảnh khắc để tìm ra câu trả
lời cụ thể cho giải pháp nghệ thuật.
Cũng như trong cuộc đời không
có mệnh lệnh chung, không có câu trả lời chung, có lý nhưng có tình,
phép vua thua lệ làng - người nghệ sĩ Việt
Nam chỉ bị ràng buộc bởi những điểm hẹn nơi hội tụ những tự do sáng tạo cá nhân cho một hiệu quả chung.
Chính quyền năng tự do sáng
tạo cái cụ thể mà văn hóa Việt đã trao cho mỗi cá nhân ấy đã trở thành
cái xung năng văn hóa dẫn đến chiêu thức vẽ giun của Trạng Quỳnh. Như
một nghệ sỹ chèo dùng vũ đạo cụ thể hóa khoảng không sân khấu thành núi
non sông nước, Trạng Quỳnh đã dùng những ngón tay thay bút cụ thể hóa
đề thi trừu tượng thành những con giun.