|
Anh Hiến kể Nguyễn Sáng cũng là người Mỹ Tho như anh
nhưng nhà nghèo lắm, sau khi tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định, Sáng
thèm được ra Hà Nội học ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sáng phải lừa
gia đình, một hôm dắt con bò ra đồng gặm (ANTĐ) -cỏ, anh ấy tuồn luôn
nó ra chợ bán lấy ít tiền rồi nhảy xe lửa làm một chuyến xuyên Việt.
Anh thi đỗ, sắp tốt nghiệp thì gặp cách mạng, thế là làm người Hà Nội.
 | |
Bức “Gặp nhau” của họa sĩ Mai Văn Hiến |
Một
chuyến xa nhà vài mươi năm, một chuyến ra đi không hẹn ngày về, trở
thành niềm tự hào của đất nước, như thế cũng không thể gọi là đứa con
bất hiếu. Thuở ấy, trường Mỹ thuật Đông Dương, cái trung tâm Yết Kiêu
ấy là một khu vực còn rất nhiều chuyện đáng ghi lại, vai trò của các
giáo sư, họa sĩ Pháp là rất lớn, những nỗ lực học hỏi, phấn đấu của các
trí thức trẻ Việt Nam là rất phi thường, đó chính là nền móng đáng tin
cậy cho mỹ thuật hiện đại của chúng ta.
Nhìn lại thấy cách dạy, cách học cũng khác với bây giờ
nhiều lắm, chả rõ cách nào đã có lý hơn cách nào, cứ để hạ hồi phân
giải. Sau hòa bình lập lại vài năm có một ông họa sĩ nước ngoài sang
Yết Kiêu làm chuyên gia, lệnh trên là nhất nhất phải nghe theo ông thầy
đó.
Sáng đang tham gia giảng dạy ở đấy, ông cảm thấy chưa
ổn, thấy chối, muốn nổi cái tính bướng vốn có từ nhỏ, nó vẫn nằm nguyên
trong tâm khảm ông. Sáng bèn mời vị kia lại chơi nhà mình, anh mời
khách xem một bức anh vừa vẽ, vẽ rất thực, rất cơ bản, vẽ kỹ từng chi
tiết, một bút pháp đạt đến bậc thầy về ánh sáng, về bố cục, về hình
họa, về màu. Ông thầy khen nức nở và lấy làm tâm đắc. Rồi Sáng lại lẳng
lặng mở tiếp bức thứ hai, một bức sơn mài ủ bằng mấy mảnh bao tải xếp
tựa vào tường.
Trong bức đó, Sáng vẽ một thiếu nữ Hà Nội áo dài đỏ,
ngồi vây xung quanh cô là bốn con hổ vờn: hổ trắng, hổ đen, hổ xám, hổ
vàng. Một bức tranh độc nhất vô nhị, vẽ bằng bút pháp rất Sáng, chỉ
riêng của mình Sáng và anh ấy nói với người bạn kia bằng tiếng Pháp:
Bức kia tưởng vậy chứ thực ra thì tôi vẽ được mà anh và mọi người cũng
đều vẽ được, còn bức này thì khác chỉ có tôi mới vẽ được và tôi chính
là tác giả của nó.
Mấy năm sau khi Hà Nội bước vào cuộc chiến tranh phá
hoại bằng không quân của Mỹ, bức tranh ấy được gửi sang Thụy Điển, làm
quà của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi tặng Thủ tướng Ologpalme. Anh Hiến
lúc đó đang là Ủy viên Thường vụ phụ trách công tác đối ngoại của Hội
Mỹ thuật, phải tự tay lo việc đóng gói chuyên chở, còn Sáng thì ngồi lừ
lừ ở một góc nhà với một chai rượu Vân nấu từ sắn. Anh ấy đã khóc, khóc
lặng lẽ, khóc trong niềm kiêu hãnh, trong hạnh phúc của một kẻ cô đơn
sáng tạo.
Có một người thường năng đến thăm nhà anh Hiến, được
VTV3 có nhã ý làm một cuốn phim giới thiệu về mình cũng cố phải mời
bằng được anh Hiến ngồi với mình. Người ấy là họa sĩ Văn Đa. Anh Văn Đa
kém anh Hiến gần chục tuổi, họ vốn là họa sĩ quân đội. Khi anh Đa tốt
nghiệp trường nghệ thuật Yết Kiêu khóa I thời ta thì về phòng văn nghệ
quân đội, kiêm công việc trình bày minh họa tạp chí văn nghệ quân đội
thay cho anh Hiến chuyển sang Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Lúc anh Hiến là họa sĩ của báo vệ quốc quân, tiền thân
của Báo Quân đội nhân dân thì anh Văn Đa còn đang là một họa sĩ dưới
đơn vị Tây Tiến. Anh là người có họ hàng bên ngoại với họa sĩ nổi tiếng
Bùi Xuân Phái, được ông Phái rất quý nhưng người thầy đầu tiên đưa anh
vào hội họa lại là nhà thơ Quang Dũng.
Nhiều năm đầu kháng chiến họ đã cùng chung sống bên
nhau ở một mặt trận. Quang Dũng tự học vẽ cũng như anh đã ngân nga làm
ra bài hát Ba Vì mờ cao rồi nhờ Huy Du ghi ra thành nốt nhạc giúp mình
vậy. Đó là những năm tháng khó quên. Sương giăng mờ tỏ trên những rặng
đào phai, những nếp nhà, những lối mòn vào bản, những góc rừng ngập cỏ
hoang, những đoàn quân thấp thoáng, chú ngựa trắng bên sườn núi đỏ, đàn
em bồng địu nhau đứng trên thềm, đứng bên bờ dậu một vườn rau, tất cả
những năm tháng ấy về sau đều được cây cọ tài hoa nhiều tình của Văn Đa
chuyển lên mặt vải.
Anh Văn Đa thông báo hai anh em sắp được nhận giải
thưởng Nhà nước. Quang Dũng cũng được truy tặng lần này. Anh Hiến cười:
“Tốt, với người đang ốm như bọn mình lại càng thiết thực, một đồng lúc
này cũng quý”.
Ngày cướp chính quyền, anh Văn Đa ôm súng trường đứng
gác ở cổng trại Bảo an binh trên phố Hàng Bài, còn anh Hiến được gọi đi
vẽ tiền cách mạng. Anh được một cán bộ dẫn đến gặp người lãnh đạo tổ
chức văn hóa cứu quốc lúc đó đang đóng trụ sở tại Nhà in Tau Pin về sau
này cái nhà in đó biến thành cửa hàng bách hóa số 5 Lê Duẩn, đêm đêm ra
chỗ ấy là mấy anh thợ tẩm quất trải chiếu ra hè gõ tanh tách lên lưng
khách qua đường.
Bây giờ chỗ ấy đã có một siêu thị mọc cao ngất. Rồi
anh Hiến được dẫn lên gặp ông Phạm Văn Đồng lúc đó là Bộ trưởng Bộ Tài
chính lâm thời. Công việc đòi hỏi tuyệt đối bí mật. Muốn làm cách mạng
là phải biết giữ bí mật. Cách mạng đã có chính quyền thì đương nhiên
phải có quân đội, phải có tiền của mình. Bài học vỡ lòng về cách mạng
của anh Hiến chỉ có vậy. Đó là những đồng tiền đầu tiên của chế độ mới.
Cụ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 1 đồng. Ông Nguyễn Văn Khanh
vẽ tờ 20 đồng. Ông Nguyễn Hiến vẽ tờ con trâu xanh 100 đồng. Anh Hiến
vẽ tờ 5 đồng. Gọi là mệnh giá 5 đồng. Đồng tiền có hai mặt, mặt trước
vẽ hình Bác Hồ, mặt sau có hình người thợ đưa búa lên nện xuống cái đe.
Trước đó, anh đã phải cất công tìm xuống một phân xưởng nguội trong nhà
ga Hàng Cỏ để ký họa những người thợ đang lao động. Đó cũng có thể xem
là chuyến đi lấy tài liệu, chuyến đi thâm nhập thực tế đầu tiên của
anh, một họa sĩ quyết toàn tâm toàn ý đi với cách mạng…
Hôm Nhà nước long trọng tổ chức trao giải thưởng, anh
Văn Đa phóng một chiếc xe Peugeot lọc cọc đến rủ, nhưng anh Hiến nói đã
cử đệ nhất tiểu thư của mình đến để nhận thay. Con chị nó ra nhận giải
thưởng là phải rồi, không giỏi giang bằng con em nhưng nhân hậu dễ
thương, cả hai đứa đều vừa giống mẹ lại vừa có dáng của bà nội. Nét đầm
phảng phất trong ánh mắt nụ cười được Việt Nam hóa qua vài thế hệ nom
thật mê hồn. Như tất cả các họa sĩ ở mọi thời, anh Hiến rất thích vẽ
phụ nữ, anh trân trọng và anh thuộc từng đường cong tuyệt mỹ trên thân
thể mà tạo hóa đã ban cho họ.
Trong số những bức tranh mà anh được trao tặng giải
thưởng lần này có bức Gặp nhau vẽ sau khi anh từ mặt trận Điện Biên trở
về. Bức bột màu không lớn, những nét vẽ phóng khoáng, cảnh rừng núi
trải rộng và sâu, bên con đường đất, có hai người đang vui sướng gặp
nhau, họ đứng đó, họ đang cùng ra mặt trận, người lính trẻ mang súng,
cô gái đặt tay lên đòn gánh. Họ là một cặp vợ chồng hay là một đôi tình
nhân lâu ngày gặp lại, cứ để cho người xem mặc sức phỏng đoán. Chỉ biết
là cô gái ấy rất duyên dáng mặn mà, cô hiện ra như một cô Tấm giữa cảnh
trời đất vào độ xuân sang, với những mảng màu xanh lục pha nâu vàng
xiết bao thân thiết.
Tùy bút của Đỗ Chu (Theo An Ninh Thủ đô)
Copyright 2007. All Rights Reserved. |