Từ triển lãm thành ra quá
tĩnh so với tính chất động của mỹ thuật. Sự kiện mỹ thuật là từ thay thế
được dùng phổ biến hơn.
Lý lịch nghệ thuật một hoạ sĩ có thể
không có một triển lãm hay bức tranh, pho tượng nào mà gồm toàn các “sự
kiện” với các trình diễn, sắp đặt, tương tác, video…
Hai sự kiện
do Trần Lương làm curator ở Oslo (Na Uy) và Berlin (Đức) - gồm các tác
phẩm, tác giả đương đại - có khi còn khó hiểu, khó được duyệt, lạ và mới
với công chúng trong nước lại được coi là hình ảnh đại diện chính thức
cho mỹ thuật Việt Nam nhân các kỷ niệm ngoại giao.
Dọc một cây số
đê sông Hồng được Đào Anh Khánh và các bạn nghệ sĩ tổng hợp của ông
biến thành một không gian mỹ thuật dâng tặng dân quê thủ đô nghìn năm.
Dự
án nghệ thuật cầu Long Biên không thành công cũng do không quán xuyến
được tính tổng hợp của nó.
Trường ĐH Mỹ thuật TPHCM mới có một
gallery nghệ thuật ứng dụng, khang trang và muốn như VAC của ĐH Mỹ thuật
Hà Nội trở nên một trung tâm mỹ thuật tổng hợp. Ở đây đã liên tục diễn
ra các triển lãm (TL) giao lưu Hà Nội - Sài Gòn, TL của 12 tác giả thời
danh của thành phố, TL nghệ thuật đương đại Hàn Quốc và “tổng hợp” nhất
là “Bienale mỹ thuật trẻ lần I” của các tác giả dưới 35 tuổi. Sự kiện
này sẽ được tổ chức hai năm một lần và muốn là cánh cửa lớn cho giới trẻ
đi vào comtemporay arts quốc tế.
Mỹ thuật đa thành phần và hoạt
động hỗn hợp bởi những liên kết chằng chịt của nó với đời sống xã hội
qua các thiết chế rất khác nhau. Năm qua là năm ngoại giao văn hoá nên
nở rộ các triển lãm hữu nghị khắp trong và ngoài nước nhân “X… năm thiết
lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước”. Chất lượng thường đứng sau động
cơ phát triển hữu nghị.
“Nghệ thuật liên doanh - Nghệ thuật sứ
quán” vốn đóng vai trò các điểm hút công chúng thị thành càng sôi nổi
hơn. Tuy nhiên, cũng không có sự kiện “bom tấn” nào được điểm danh.
Bom
tấn là các dự án tượng đài do Nhà nước chi tiền nhân các dịp kỷ niệm.
Một thành phố nhỏ như Ninh Bình làm một quảng trường khổng lồ 1.000 tỉ
đồng với một tượng đài Vua Đinh hoành tráng và tác giả đang kiện vì chất
lượng phóng tượng của ông quá kém.
Các kỷ lục “Ghinét VN
(Guiness - cách dùng chữ của tác giả. BT) ” liên tục bị phá đổ bởi các
công trình tín ngưỡng với các tác phẩm “to nhất”, “cao nhất” “nặng nhất”
khu vực và thế giới. Chất lượng, chuyện cái đẹp của các công trình đời
và đạo tổng hợp này cũng được thả nổi như giá sữa và an toàn vệ sinh
thực phẩm.
Trong tính tổng hợp mọi vùng miền, dân tộc, giới
tính, lứa tuổi… thì con tàu mỹ thuật phong trào vẫn lặng lẽ hải trình cũ
kĩ với các giải thưởng, triển lãm khu vực và toàn quốc. Người ta đang
trông đợi BCH mới của các hội mỹ thuật sẽ nói to rằng: “Chúng ta có thể
đổi thay!”.
Thị trường mỹ thuật “cổ điển” vẫn hỗn tạp với nạn
chép tranh, làm giả, nhái và chạy theo thị hiếu du lịch. Tranh giả len
vào cả các phiên “đấu giá quốc tế” góp phần làm giá tác phẩm Việt Nam cừ
ỳ ạch rớt xa phía sau các nước trong khu vực.
Các gallery thương
mại thì đúng là cửa hàng “bách hoá” mỹ thuật thượng vàng hạ cám. Tuy
nhiên có le lói vài dấu hiệu cho thấy các “đại gia nội địa” có thể bắt
đầu quan tâm tới hướng đầu tư vào sưu tầm và kinh doanh mỹ thuật. Nếu
thuận lợi, may ra 10-15 năm nữa ta sẽ có một thị trường nội địa thực
thụ.
Điều đáng mừng nữa là dù còn rất nhỏ nhưng một số doanh
nghiệp đã góp tiền tài trợ cho một số sự kiện mỹ thuật sau khi khoanh
tay nhìn các DN và quỹ nước ngoài làm việc này hơn 20 năm qua.
Mỹ
thuật gắn chặt với du lịch và kinh tế hơn khi người ta lồng các sự kiện
mỹ thuật vào các lễ hội, liên hoan, các khu du lịch, các dịch vụ du
lịch. Tuy nhiên do tính tổng hợp của dự án, chuyện lồng ghép này không
phải dễ. Thí dụ như Con đường gốm sứ Hà Nội vốn “phi lợi nhuận” lại mang
dấu ấn quảng cáo và trở nên quá tẻ nhạt về nội dung hoặc các TL bán
tranh “từ thiện” chỉ giúp quảng bá thương hiệu mà lại hạ thấp chất lượng
trưng bày, dự án làm đẹp không gian dù có nhiều ý tưởng hay nhưng chưa
thể triển khai được một cái nào vì việc phối hợp với các cơ quan, đoàn
thể vẫn là quá “tổng hợp” - nghĩa là rắm rối.
Trong bức tranh
tổng hợp này còn một mảng đáng kể là mỹ thuật Việt kiều và ngoại kiều.
Nó đã thành một nhân tố tất nhiên làm cho sinh hoạt mỹ thuật ta mang
tính quốc tế. Triển lãm của một nữ nghệ sĩ Pháp gốc Việt, một nam hoạ sĩ
Úc hay một nghệ sĩ thị giác Bỉ… không còn là điều bất ngờ gây tò mò như
trước nữa. Chúng cũng “bình thường thôi” như mọi sự kiện mỹ thuật khác.
Người ta không còn bàn chuyện “đóng hay mở”, “hoà nhập hay hoà tan”
nữa. Sự bình thường hoá này là đáng hoan nghênh.
Nhìn chung thì
tính tổng-hỗn hợp của mỹ thuật thời nay còn là tất yếu bởi bản chất thẩm
mỹ-chính trị-xã hội-tín ngưỡng-thương hiệu-tiếp thị-du lịch v.v và v.v…
Ngày
xuân nhìn ra cửa sổ thấy đào, mai. Tự nhủ ta có quyền ước mong. Mong
rằng các nghệ sĩ tiếp tục hăng hái vật lộn với nghệ thuật tổng hợp. Mong
công chúng dành chút thời gian “để mắt” tới các sản phẩm đẹp họ muốn
bán hay dâng tặng. Mong nhất là giới quản trị nhận ra tính “tổng-hỗn” và
sức mạnh của mỹ thuật để đổi thay căn bản cách quản trị mỹ thuật (và
nghệ thuật nói chung) cho hợp với thực tiễn cuộc sống hơn. Mong nữa là
giới doanh nghiệp nhận thức đúng vai trò trụ cột của mình trong việc bảo
trợ nền nghệ thuật quốc gia.
Mỗi năm được một lần mong. Xin cung
chúc tân xuân tân mỹ!