|
Giống
như một căn bệnh trầm kha, phê bình mỹ thuật hiện nay vẫn chưa có sức
hút, sức lan toả và thuyết phục công chúng yêu nghệ thuật cũng như với
giới sáng tác.
Trọng thị hay chưa trọng thị?
Trước
ngày Đại hội bầu Ban chấp hành cho nhiệm kỳ mới của Hội Mỹ thuật Việt
Nam, các chuyên ngành có họp, trong đó có ngành Phê bình, để bầu đại
biểu đi dự Đại hội, cũng là dịp các Hội viên có cơ hội phát biểu nhìn
lại mình qua từng chặng đường công việc đã làm và cần làm. Đa số ý
kiến, nếu chưa phải là tất cả, đều nhất trí rằng ngành Phê bình Mỹ
thuật của Việt Nam thực sự còn ở vị trí khiêm tốn, yếu kém, so với
tương quan chung từ trong nước đến khu vực và quốc tế. Giống như một
căn bệnh trầm kha, nó vẫn chưa có sức hút, sức lan toả và thuyết phục
công chúng yêu nghệ thuật cũng như với giới sáng tác.
Mỗi
bài phê bình được phát ra trên báo chí, hoặc tạp chí chuyên ngành, hay
phương tiện thông tin đại chúng, đều chỉ được nhìn nhận như những bài
giới thiệu, điểm báo, điểm danh tác giả - tác phẩm. Hầu như không có
sức nặng của một bài phê bình nghệ thuật theo đúng nghĩa học thuật, hay
một lập trình về triết học nghệ thuật. Vì vậy, thông tin thường nghèo
nàn, ít hoặc không có tác dụng.
Đi tìm nguyên nhân của sự yếu kém, không ít ý kiến đã được đề cập thẳng thắn, nóng lòng, không loại trừ cả thất vọng:
-
So với ngành sáng tác, chuyên ngành Phê bình thường lép vế, ít được đầu
tư và khuyến khích. Hoặc có cũng chỉ chiếu lệ. Với người cao tuổi, làm
phê bình chỉ sống bằng lương hưu. Với người trẻ thì phải làm nghề phụ
để kiếm thêm mà hành nghề.
-
Bài viết ra không có nơi đăng. Vì báo chí cũng có phóng viên viết về
chuyên mục Văn hóa - Nghệ thuật rồi. Thản hoặc có được đăng thì nhuận
bút cũng rất “bèo”, rất “héo”, không đủ bù cho sức khoẻ bị bào mòn.
-
Nội dung bài viết thường dập khuôn, không có sáng tạo, không hướng được
công chúng hưởng thụ, tiếp nhận và giao hoà cùng cái đẹp. Khen chê lấy
lệ, miễn sao cho bài viết tròn chặn, không sai phạm với đường lối chính
sách, văn hoá - tư tưởng của Đảng. Nhà phê bình giống như người cầm
canh gõ kẻng, đổi gác, báo thức. Thế là coi như đã làm tròn nhiệm vụ.
Người
làm phê bình không được đào tạo chính quy, thường là “tay ngang”, được
đào tạo từ các trường đại học tổng hợp, sư phạm, báo chí thuộc khoa xã
hội nhân văn sang làm phê bình mỹ thuật. Một số trẻ có được đào tạo tại
các khoa lịch sử - lý luận của các trường đại học Mỹ thuật nhưng qua
thử thách thực tế, văn không hơn những nhà phê bình đi trước. Và so với
lớp cha anh, họ vẫn còn ít vốn liếng kiến thức và kinh nghiệm trong học
thuật - phê bình cũng như vốn sống.
Trình độ và sự khác biệt văn hoá Đông - Tây
Gộp
lại các nguyên nhân yếu kém của các nhà phê bình Mỹ thuật Việt Nam hiện
đại - đương đại, suy cho cùng còn thiếu kiến thức nền - kiến thức tổng
hợp, một trong những yêu cầu tiên quyết quan trọng nhất cho tay nghề và
niềm tự tin với người làm phê bình nghệ thuật. Hãy lấy ví dụ các nhà
phê bình nghệ thuật phương Tây, hay các nước phát triển. Họ cũng chỉ
được đào tạo ở các trường đại học như ta. Nhưng là các trường đại học
có uy tín, chất lượng, được các giáo sư - nghệ sĩ có học hàm, học vị
hướng dẫn theo đúng nghĩa học thuật - nghệ thuật. Kết quả đào tạo của
họ là thầy giỏi, tạo ra trò giỏi. Máy cái tốt khỏe, tạo ra những máy
con tốt, khoẻ, đa dạng, đa phong cách, chủ động, tự do, chuyên nghiệp
trong sáng tạo hành nghề. Chính vì vậy mà công chúng đã đặt niềm tin
vào các nhà phê bình nghệ thuật, hơn cả với các nghệ sĩ sáng tác. Rồi
đến lượt các nghệ sĩ sáng tác, ngoài niềm tin ở chính mình, họ cũng đặt
niềm tin sâu sắc vào các nhà phê bình nghệ thuật, coi các nhà phê bình
nghệ thuật là những nhà biết luận - Tâm lý - Văn hóa học nghệ thuật
thực sự có tài năng và học vấn đáng tin cậy. Hãy lấy ví dụ cụ thể giá
tranh của các danh hoạ như V.Van Gogh, hay P.Picasso. . . có giá hàng
mấy chục triệu đô la mỗi tác phẩm. Đâu phải Van Gogh hay P.Picasoo tự
tôn vinh mình mà có được vinh danh ấy, nếu không phải từ các công ty
đấu giá đã dựa vào tiếng nói được phát đi từ các nhà phê bình. Và các
nhà phê bình nghệ thuật có được lòng tin và uy tín to lớn ấy đâu phải
dễ, nếu họ không có một cái vốn học vấn văn hoá - nghệ thuật sâu rộng
về kho kiến thức tổng hợp, cộng với năng khiếu, sở trường của chính bản
thân mình? Vì vậy mà nhà phê bình đã được ví như người mở cửa vườn địa
đàng, hay người giải mã thông tin, khích lệ người nghệ sĩ và công chúng
bước vào thế giới cái đẹp, nhận thức được cái đẹp qua tâm năng và trí
năng của nghệ thuật sáng tạo.
Sở học của nhà phê bình
Một
số nhà phê bình còn lầm lẫn hay tự đặt mình như người có trách nhiệm
“theo dõi”, “quản lý nghệ thuật”, “định hướng nghệ thuật”, chỉ đường
cho người nghệ sĩ sáng tác. Họ quên rằng mỗi nghệ sĩ đều có một thế
giới thẩm mỹ riêng, rất riêng và tự do như Thượng đế trong khu vườn
sáng tạo của họ. Sự can thiệp thô bạo, hay “dạy dỗ” người sáng tác,
không phải là chức năng hay quyền uy của nhà phê bình. Nói như Socrate
(469 - 399 Trcn , đó không phải là thầy dạy, một giáo sư, mà chỉ là
người kích thích trung gian hoà giải “người đỡ đẻ cho các tinh hồn” ẩn
chứa chân lý bị quên đi mà thôi. Sáng tác phê bình là bình đẳng “cùng
dàn hàng ngang mà tiến lên”, lời nhà phê bình mỹ thuật quá cố Thái Bá
Vân. Nhà phê bình phải là người đọc số 1 tác phẩm của người nghệ sĩ.
Bằng không, nên im lặng là tốt nhất. Đó cũng là đạo đức của nhà phê
bình.
Một
quan niệm không đúng nữa, các nhà quản lý nghệ thuật thường yêu cầu nhà
phê bình, hoặc nhà phê bình cũng ngộ nhận tự cho mình phải “khách
quan”, trước tác phẩm và nghệ sĩ. Chúng ta quên rằng nhà phê bình khi
tiếp cận tác phẩm, giống như bác sĩ y khoa giải phẫu có tay nghề, hoặc
như chuyên viên thông tin giỏi, biết mổ xẻ, giải mã tác phẩm bằng tài
năng và sở học của chính mình, bằng cảm xúc thẩm mỹ của riêng mình, làm
sao có thể “ép” nhà phê bình phải “khách quan, trong công việc chủ quan
của mình”. Nói khác đi, đó là sự trung thực, sự nhận thức đúng về nghề
nghiệp, là sở học riêng đích thực của nhà phê bình, theo đúng nghĩa của
học thuật và nghệ thuật./. |