Nói đến trang trí trong di tích Huế, người ta thường nghĩ ngay đến
những cung điện được sơn son thếp vàng lộng lẫy trong và ngoài công
trình, bên cạnh những trang trí phù điêu bằng vữa đắp khảm sành sứ.
Trang trí trên gỗ bằng kỹ thuật sơn thếp truyền thống đã trở thành
một đặc điểm nổi bật của kiến trúc cung đình Huế.
Bức
Trấn phong bằng sơn mài do nhóm hoạ sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thực
hiện năm 1937, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế.
Nghề sơn thếp ở Huế được “khai sinh” vào khoảng đầu thời nhà Nguyễn, khi
triều đình ở Huế tập hợp thợ thủ công ở toàn quốc về các Tượng cục (công xưởng
của triều đình) nhằm tập trung cho việc xây dựng cung điện, sản xuất hàng hoá,
sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và quốc phòng của triều đình. Lúc hưng
thịnh, số Tượng cục của triều Nguyễn lên đến 95.
Cùng với Nội kim tượng ty (Ty thợ vàng), Ngân tượng ty (Ty thợ bạc), Hoạ
tượng cục (cục thợ vẽ), Pháp lam tượng cục (Cục thợ làm đồ pháp lam)..., Tất
tượng cụ (cục thợ làm nghề sơn thếp) được triều đình thành lập để chuyên trách
về việc trang trí trên gỗ bằng kỹ thuật sơn son thếp vàng.
Thời kỳ đầu, Tất tượng cục chỉ là một nhóm thợ từ Bắc vào. Sau đó, Tất tượng
cục được bổ sung thêm nhiều người có nguồn gốc ở các làng Tiên Nộn, Dương Nổ
(huyện Phú Vang, tỉnh TT-Huế ngày nay) lên để học nghề.
Năm 1945, triều Nguyễn cáo chung, chế độ Tượng cục cũng theo đó mà chấm dứt.
Những người thợ trong Tất tượng cục số trở về Bắc, số trở về các làng Tiên Nộn,
Dương Nổ để tiếp tục duy trì nghề sơn thếp.
Tuy nhiên vì nhiều lý do, đặc biệt là sự sa sút trình độ chạm khắc, kinh
nghiệm thất truyền, kỹ thuật sa sút và thiếu vắng các mẫu mã nguyên gốc, việc sử
dụng nguyên liệu mới từ Trung Quốc, Nhật Bản..., nên hiện nghề sơn mài truyền
thống ở các làng Tiên Nộn, Dương Nổ đã ngày một mai một dần. Giờ ở Huế gần như
không còn ai sống bằng nghề sơn thếp, ngoài những người làm công tác trùng tu di
tích ở Trung tâm BTDTCĐ Huế.
Vẻ đẹp không lẫn lộn
Hộp
đựng trà bằng sơn mài dùng trong cung, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật
Cung đình Huế.
Theo KTS Phùng Phu – Giám đốc Trung tâm BTDTCĐ Huế thì xuất phát từ các kỹ
thuật dân gian, nhưng sơn thếp trên các kiến trúc cung đình Huế đã tiến đến một
mức độ hoàn hảo, tạo nên một vẻ đẹp không lẫn lộn, với hai nhóm trang trí chính.
Nhóm 1 gồm trang trí có khắc, chạm trên gỗ, hình khối, phù điêu.
Nhóm này thường áp dụng trên các trang trí liên ba, hoành phi hoặc
câu đối..., nội dung thể hiện thường là các chủ đề truyền thống: bát Tiên
(Lý Thiết Quải, Lã Đồng Tân...); bát bửu (có các loại của Phật, Lão, Nho); tứ
thời theo kiểu hoa lá (mai, lan, cúc, trúc...). Hoặc theo kiểu kết hợp chim -
cây (én + đào, vịt + sen, tùng + hạc...); kiểu cây - thú (mã - liễu, tùng - lộc
...). Cũng có khi là những chủ đề dân gian quen thuộc: Ngư - Tiều - Canh -
Mục...
Nhóm 1 khá phổ biến trong trang trí kiến trúc gỗ ở di tích Huế.
Thông thường các hình trang trí dạng phù điêu thường được thếp vàng hoặc
thếp bạc phủ hoàn kim. Màu nền của trang trí thường là xanh, vàng hoặc
đỏ làm cho ánh kim loại được nổi bật, tương phản tạo nên một phong
cách trang trí lộng lẫy.
Nhóm 2 gồm những trang trí trên mặt phẳng (trên các cửa đi, vách gỗ
và cột, các trang trí viền mang tính lặp lại). Loại hình trang trí này
là các đường nét, hoặc đơn độc, hoặc tập hợp; đôi lúc chỉ xuất hiện một lần,
nhưng thường khi chúng lặp đi lặp lại theo chu kỳ tạo nên những đường diềm, nét
viền hay các đoạn trang trí đẹp mắt.
Đôi khi, các đường nét hoa văn được nâng lên thành các hình tượng như là sóng
biển, dãy núi, vân mây...Cũng có khi những hình tượng trở nên rõ nét hơn thành
các tích như là “dây hoá giao”, “cá hoá rồng” nhưng tổng thể thì vẫn là các nét.
Theo KTS Phùng Phu thì trang trí gỗ Việt Nam, đặc biệt ở di tích Huế
mặc dù có nhiều tương đồng với các nước láng giềng như Trung Quốc,
Nhật Bản..., nhưng vẫn có những đặc điểm riêng biệt như phong cách trang
trí, đặc biệt là chất liệu sơn. So với loại sơn truyền thống của
Nhật bản thì cả về cảm giác và về tính chất cơ lý, sơn Việt Nam
mềm dẻo hơn.
Ngoài những cung điện lộng lẫy ở di tích Huế, các công trình mang
tính chất tôn giáo cũng áp dụng hình thức trang trí này, tuy nhiên
mang một thần thái khác.
|
Chất
liệu chính của sơn mài truyền thống là nhựa cây sơn (sơn ta), được
trồng nhiều trên những triền đồi vùng trung du Bắc bộ. Loại
nguyên vật liệu thứ hai là vàng quỳ và bạc quỳ. Nguyên liệu thứ
ba là bột màu, là các loại son được nhập từ Trung Quốc hay Nhật
Bản. Các loại nguyên liệu khác là đất sét, vải, giấy, các loại
dầu như dầu trẩu, nhựa thông...
Theo
KTS Phùng Phu thì một quy trình sơn thếp (đang được thực hiện để trùng tu
di tích Huế) phải trải qua 16 bước rất phức tạp, tốn nhiều nguyên vật
liệu, thời gian, và sự công phu. Chính bởi thế mà sơn thếp truyền thống
tồn tại rất lâu, có khi còn lâu hơn cả thời gian tồn tại của một đời người
(từ khoảng 50 năm - 200 năm).
|
(Còn tiếp)
Tường Minh (Theo Nhân dân)