 Sơn mài truyền thống Huế đến nay đã là một thuật ngữ chung chung,
dễ nhầm lẫn, kể cả với người trong nghề. Nếu rạch ròi thì “sơn mài truyền thống”
phải bao gồm nghề sơn thếp (sơn son thếp vàng) và nghề sơn mài (tức sơn có mài).
Trong sơn mài lại còn phân chia sơn mài mỹ nghệ và tranh sơn mài. Tuy vậy, dù
sơn có mài hay không mài thì nghề này ở Huế hiện cũng chỉ còn phần xác và những
dấu vết trên di tích...
Bài 2: Sơn mài và sơn mài mỹ nghệ
Năm 1925, khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời, kỹ thuật sơn thếp
truyền thống của Việt Nam được đưa vào giảng dạy và phát triển lên một tầm cao
mới, gọi là sơn mài (quy trình kỹ thuật như sơn thếp, nhưng có thêm phần mài).
Ngoài làm tranh, sơn mài còn được “phát triển” thêm với việc làm sơn mài mỹ nghệ
như một nghề thủ công truyền thống.
Tranh sơn mài
Dấu vết và bằng chứng cổ xưa nhất của quá trình phát triển từ sơn son thếp
vàng lên sơn mài nghệ thuật ở Huế, là hai là bức Trấn phong (che gió)
được nhóm hoạ sĩ của Trường Cao đăng Mỹ thuật Đông Dương sáng tác năm 1937
hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế.
Bức Trấn phong số hiệu BTH -1437 có kích thước 171cm x 305 cm, gồm 10
phiến gỗ hình chữ nhật, ghép bằng bản lề đồng. Ngoài chức năng chấn
gió, phân cách không gian nội thất, bức Trấn phong này còn là một bức
tranh sơn mài nghệ thuật rất độc đáo.
Mặc dù tranh sơn mài xuất hiện ở Huế khá sớm, nhưng phải đến trước năm 1975,
sơn mài mới được đưa vào giảng dạy tại Trường cao đẳng nghệ thuật Huế, nay là
Đại học Nghệ thuật.
Thư
pháp thơ bằng sơn mài của hoạ sĩ Nguyễn Phước Hải Trung,
hiện đang trưng bày
trong Đại nội Huế.
Tuy lịch sử ngắn ngủi, nhưng ở Huế cũng kịp hình thành những thế hệ hoạ sĩ
thành danh với tranh sơn mài như cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, hoạ sĩ Trương Bé, Nguyễn
Thiện Đức...Hoạ sĩ Phan Thanh Bình - Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật
Huế cho biết: “Mãi những năm sau này Huế mới có hoạ sĩ đoạt giải thưởng quốc gia
về tranh sơn dầu chứ trước đó, giải thưởng mà hoạ sĩ Huế dành được toàn là với
tác phẩm sơn mài”.
Hiện ở Huế có nhiều hoạ sĩ làm và sống với tranh sơn mài, nhưng sơn mài bây
giờ không còn là sơn mài theo kiểu “khuôn vàng thước ngọc” như lý thuyết và
những người đi trước.
Sơn mài bây giờ được “biến thể” về kỹ thuật như hoạ sĩ Võ Xuân Huy (màu đen
của sơn then, màu đỏ của son, màu trắng của vỏ trứng...không còn chủ đạo, thậm
chí là không còn xuất hiện trong một số tác phẩm. Đổi lại là sự xuất hiện của
những màu mới như xám tro, xám bạc, màu của đất, sỏi đá, lon bia, hoa văn, ký
tự...).
Hoặc thay vì làm đúng như truyền thống với 6 lớp phủ và mài trong thời gian
ít nhất là 6 tháng, vóc bằng gỗ...thì nhiều hoạ sĩ (không tiện nêu tên) bây giờ
lại sử dụng vóc bằng ván ép thông thường, và rút ngắn quy trình phủ, mài
một hai lớp...nên chất lượng kỹ thuật rất kém.
Người đầu tiên đưa sơn mài Huế vào mỹ nghệ
Truyền
lô – Tranh sơn mài của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng,
hiện đang trưng bày tại lầu Ngũ
Phụng.
So với tranh sơn màu thì sơn màu mỹ nghệ xuất hiện ở Huế sớm hơn khoảng 10
năm. Và theo hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu - Chủ tịch Hội LHVHNT tỉnh TT-Huế thì người đầu
tiên đưa sơn mài Huế vào sản xuất thành hàng mỹ nghệ là cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ
Hoàng.
Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành sơn mài tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định
(TP.Hồ Chí Minh) trở về Huế năm 1962, ngoài việc làm tranh sơn mài, cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng còn thành lập một trung tâm chuyên sản xuất sơn mài
mỹ nghệ gọi là “Trung tâm khuếch trương Tiểu công nghệ Huế”.
“Trung tâm khuếch trương Tiểu công nghệ Huế” là một quy trình khép kín với
việc kết hợp sơn mài với các nghề thủ công truyền thống khác như tiện, chạm
khảm, đồi mồi...để cho ra những mặt hàng thủ công mẫu mã rất đẹp và đa dạng từ
bình, hộp, cho đến bàn ghế, tủ...
Thời đó, những mẫu hàng của “Trung tâm khuếch trương Tiểu công nghệ Huế” bán
rất chạy không chỉ ở Huế mà còn khắp nơi trong cả nước. Đặc biệt, những mặt hàng
trang trí theo các môtip trong cung như bát tiên, bát bửu, tứ thời...không chỉ
bán nhiều trong nước mà còn xuất khẩu với một lướng lớn ra nước ngoài.
Song song với việc sản xuất sơn mài thủ công mỹ nghệ, “Trung tâm khuếch
trương Tiểu công nghệ Huế” của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng còn phụ trách trùng tu “sơn
son thếp vàng” các công trình trong Đại nội Huế như điện Thái Hoà, Ngọ Môn, cung
Trường Sanh...
Tranh
“sơn mài biến thể” của họa sĩ Võ Xuân Huy.
Ảnh: T.M
Đáng tiếc là với nhiều lý do, “Trung tâm khuếch trương Tiểu công nghệ Huế”
chỉ tồn tại đến năm 1973 thì tan rã. Đó cũng là thời điểm đánh dấu sự đi xuống
của nghề làm sơn mài mỹ nghệ Huế.
Sau hơn 10 năm huy hoàng của “Trung tâm khuếch trương Tiểu công nghệ Huế”,
nghề sơn mài mỹ nghệ Huế gần như “chết lâm sàn” từ đó cho tới nay. Hiện hầu như
một cơ sở bán hàng lưu niệm nào ở Huế cũng có bán sơn mài mỹ nghệ, và đều được
giới thiệu là sơn mài truyền thống Huế.
Tuy nhiên theo tìm hiểu của chúng tôi, đó phần lớn là hàng làm dối từ quy
trình cho đến chất liệu (sử dụng sơn Nhật); hàng có xuất xứ từ Bình Dương, TP.Hồ
Chí Minh; hàng “không rõ nguồn gốc, xuất xứ”...
|
Trong festival làng nghề truyền thống Huế 2009 sắp tới, sẽ
có sự tham gia của hai làng nghề sơn mài truyền thống rất nổi tiếng của
Việt Nam là Tương Bình Hiệp (Bình Dương) và Hạ Thái (Hà Tây cũ). Phía chủ
nhà Huế sẽ có sự tham gia của các hoạ sĩ chuyên về sơn mài của Trường Đại
học Nghệ thuật Huế và các triển lãm tranh sơn mài của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ
Hoàng; trưng bày các bài tập tốt nghiệp của sinh viên khoa Sơn mài Đại học
Nghệ thuật Huế...
|
TƯỜNG MINH (Theo Nhân dân)
Copyright 2007. All Rights Reserved. |