Tên người dùng
Mật khẩu
Bạn quên mật khẩu?
Chưa có tài khoản? Tạo một tài khoản
 

Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 2008 - TL TranhSondau VN-2008_031


Khỏa thân và các Hình thức biểu hiện của hội họa - hp 108 .04 62850131 (84)


Khỏa thân và các Hình thức biểu hiện của hội họa - hp 108 .04 62850131 (43)


Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 2008 - TL TranhSondau VN-2008_050


Tranh Đông Hồ - THA DIEU - Tranh Dong Ho



 
Hỗ trợ tư vấn miễn phí

Nhận đặt hàng (Trong nước):

0122.8317.108   0122.8317.108

hoapham108@gmail.com   hoapham108@gmail.com

   Yahoo! Messenger:

CS1:  hoapham108

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterNgày hôm nay227

Liên kết

Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Hello, you either have JavaScript turned off or an old version of Macromedia's Flash Player. Get the latest flash player.
Trang chủ
Thủ công mỹ nghệ Việt Nam với ngôi đền nghệ thuật
18/10/2009

Lịch sử về nghề thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam rất dài, chỉ kể từ thời Lý, Trần, Lê đã rất nhiều chuyện rồi và để ngắn gọn, chúng ta chỉ lấy mốc từ vụ "Bất bình" của họa sĩ họ Nguyễn để nhìn nhận về sự thăng trầm của nghề này.

Năm 1939, khi E.Jonchères thay Tardieu vị Hiệu trưởng cũ của Trường Mỹ thuật Đông Dương có ý muốn sẽ tạm dừng việc đào tạo họa sĩ, thay vào đó là dạy bộ môn "Mỹ thuật ứng dụng" để đào tạo những người ra làm nghề, đã bị nhiều người yêu mến môn hội họa của trường này phản ứng. Và Nguyễn Đỗ Cung đã bày tỏ sự bất đồng của mình trên báo "Ngày nay".

Những bất đồng, những phản ứng của những người yêu hội họa Việt Nam năm 1939 với vị Giám đốc mới của Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng chẳng liên quan gì mấy đến những vấn đề thuộc mỹ học hay những quan điểm về lập trường giai cấp, thực ra nó chỉ nằm trong dòng chảy chung của giới trí thức văn nghệ sĩ trong cuộc "Cách mạng văn hóa" (có thể gọi như vậy) thời kỳ 30 - 45, do phái Tân học khởi xướng mà nhóm "Tự lực văn đoàn" là một trong những ngọn cờ của phong trào chống lại phái cựu học - phái bảo thủ bênh vực nhiều suy nghĩ, quan niệm, tập quán, lối sống của chế độ phong kiến cổ hủ. Và đòi được quyền làm chủ, bình đẳng, tự do cho cá nhân là yêu sách nổi bật nhất của phong trào này.

Có thể nói muốn có được quyền tự do cá nhân là niềm khao khát, nguyện vọng cháy bỏng nhất của giới trí thức văn nghệ sĩ khi tham dự phong trào ấy. Họa sĩ Nguyễn Sáng, khi được hỏi: "Điều gì khiến anh phải chuyển nghề, chuyển vùng?" - Nguyễn Sáng bảo: “Hồi anh học ở Trường Mỹ thuật Gia Định, anh sướng lắm, vì gần nhà, bà già lại chiều, nhà cũng khấm khá nên cho tiền xài xả láng, nhưng vẫn phải bỏ ra Hà Nội học vẽ, vì không muốn làm đời một thằng thợ! Hồi ra Hà Nội học, xa gia đình, ít tiền xài nhưng vui vì rất tự do. Làm thằng nghệ sĩ là tự do nhất: Tự do sống, tự do chết, chỉ không có tự do tài, nhưng vẫn sướng!".

Vì nhiều lý do, đặc biệt là bắt đầu vào thời điểm này xã hội Việt Nam đã có những biến động mạnh, nên E.Jonchères đã không thực hiện được ý định của mình và nghề thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam cũng không có những bước đột phá mới. Vài năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cả nước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, người đi tham gia kháng chiến, người tản cư, các làng nghề vì thế cũng tan rã dần: Ở nông thôn thực hiện khẩu hiệu "tiêu thổ kháng chiến", còn ở thành phố người ta đã không tiếc rất nhiều đồ đạc quý hiếm, đẹp đẽ, đắt tiền do các nghệ nhân tài hoa của các làng nghề làm ra như: Sập gụ, tủ chè, sa lông cổ, câu đối, hoành phi, chân đèn, chân nến, giá gương, tranh tứ bình… làm bằng sơn khắc, khảm trai, ốc, sơn son, thếp vàng, rồi chậu hoa, bình hoa, gốm sành sứ đủ loại quăng vứt đầy đường để chặn quân thù, làm cho kho báu những đồ thủ công mỹ nghệ của đất nước mất mát, hao tổn đi không ít.

Minh họa của Lê Phương.

Tiếp đến sau hòa bình ta lại đẩy mạnh việc xây dựng chế độ công hữu, thủ tiêu mọi hình thức tư hữu nên nhiều làng nghề, thợ, nghệ nhân đã làm ăn theo lối cá thể, tư hữu bỏ nghề. Tiếp theo sau đó không lâu, dân chúng một lần nữa lại chạy bom đạn, chạy sơ tán tránh những cuộc đánh phá tàn khốc miền Bắc của giặc Mỹ kéo dài cả chục năm, làm cho nhiều làng nghề tan nát hẳn, những người thợ, những nghệ nhân, kẻ thì chết trong chiến tranh, sau hòa bình những người sống thì đã ở vào những tuổi già nua, ốm yếu, con cháu hầu như không ai tiếp nối truyền thống những ngành nghề của họ.

Có thể nói những nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam cho tới sau 1975 và thậm chí đến giữa những năm 80 của thế kỷ trước đã ở vào một thực trạng thật bi đát. Chỉ bắt đầu vào những năm đầu của thập kỷ 90 sau khi có chủ trương thực hiện chính sách đổi mới, chấp nhận nền kinh tế thị trường thì các làng nghề mới gượng dậy, hồi sinh trở lại dần. Do có thêm những đường lối, chính sách mới, tích cực và kinh tế, các làng nghề đã phát triển rất nhanh chóng, rất mạnh mẽ trên khắp đất nước.

Cho tới nay có thể nói gần như mọi ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của đất nước đã được phục hồi, đây là một cố gắng, một thành tích rất đáng khích lệ. Tuy nhiên mới chỉ đáng khích lệ ở mặt bề rộng, ở mặt số lượng, ở mặt tốc độ - tức ngành nghề thủ công mỹ nghệ đã phát triển ở nhiều nơi, đã làm ra rất nhiều những sản phẩm của đồ thủ công mỹ nghệ và làm với những năng suất rất cao (tốc độ cao) so với những người thợ, những nghệ nhân truyền thống thời trước.

Ông ngoại chúng tôi là nhà Nho Trần Thư Điền, ngày xưa là một trong những người viết chữ Nho đẹp của Hà thành, những thợ, những nghệ nhân đã nhờ cụ viết các câu chữ Nho để họ làm các hoành phi, câu đối ở nhiều chùa, đình, đền ở Hà Nội xưa như: Chùa Bà Đá, đình Hàng Than, đền Hàng Vải, Hàng Trống… đặc biệt là ở đền Ngọc Sơn, ngôi đền này hiện vẫn còn trong gian thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo hai chữ rất đẹp "Trung - Nghĩa" trên nền tường chính, lạc khoản ghi rõ ngày viết, tên người viết để ở sát dưới: "(Trần Thư Điền, Mùa thu năm Đinh Mão - 1929).

Nhà ngoại chúng tôi cũng hay dùng những đồ đạc do các thợ, các nghệ nhân thủ công mỹ nghệ làm ra, ông ngoại chúng tôi kể lại rằng để làm ra những bộ hoành phi, câu đối, sập gụ, tủ chè, các tủ bày đồ, những bộ bàn ghế sa lông cổ… thường phải chuẩn bị gỗ từ hàng năm trước, rồi cho người ngâm gỗ xuống ao, hồ ở làng, sau một thời gian lâu, khi gỗ được vớt lên mới mời những người thợ, những nghệ nhân đến làm đồ. Làm tại gia. Một nhóm thợ gồm thợ cả (thường là các nghệ nhân lão luyện) và các thợ phụ, làm một bộ đồ phải mất vài tháng, thậm chí gần cả nửa năm mới xong.

Những người thợ làm rất cẩn thận, kỹ lưỡng, chăm chút từng nét khắc, nét khảm, mảng chạm, vừa làm vừa ngắm, vừa chỉnh sửa, sao cho những cảnh sơn thủy, chim muông, hoa lá, nhà cửa, con người… được họ khắc, chạm, khảm, trổ… trông thật tinh tế, sống động, hữu tình mới thôi. Họ không làm lấy nhanh mà làm lấy tốt, lấy đẹp mới là mục tiêu để làm ra các đồ dùng, đồ bày. Họ làm với sự chăm chỉ, nhiệt tình và cả sự hưng phấn. Ngày xưa nhiều bậc nghệ nhân còn vừa làm, vừa uống rượu để lấy cảm hứng, để lấy sự thăng hoa trong khi tạo ra cảnh, ra hình…

Các thợ, các nghệ nhân của các làng nghề khác như: nghề gốm, nghề đúc, nghề chạm bạc, nghề thêu ren, nghề kim hoàn… đều làm nghề với cách như vậy cả. Có thể nói đó là những nghệ sĩ thực sự của làng quê xưa, trước khi có Tardieu đến Việt Nam mở khoa hội họa để đào tạo ra các nghệ sĩ.

Nghề thủ công mỹ nghệ thời nay hoạt động trong vòng xoáy của kinh tế thị trường làm cho người ta đã đặt yếu tố lỗ - lãi lên hàng đầu, để đạt được lãi, nhiều người không thể làm kỹ, làm thật như xưa nữa, mà phải chạy theo năng suất, cứ nhìn thực trạng của các làng nghề đồ gỗ ở Đồng Kỵ, ở Bắc Ninh, ở Nam Định, ở Hà Đông… một bộ đồ gỗ trung bình một nhóm thợ chỉ làm tối đa một tuần là phải xong. Gỗ trên rừng vừa đốn về còn tươi, còn sượng, họ vẫn phải xẻ ra đóng đồ để trả hàng, để chạy đua với những người bên cạnh, những người hàng xóm trong làng nghề. Kiểu dáng, mẫu mã từ sập gụ, tủ chè, sa lông cổ, tượng ông Phỗng, ông Phật, tượng ông Thiện, ông Ác… ngai thờ, võng thờ, hoành phi, câu đối… đủ loại đều lấy mẫu từ thời cổ mà các thợ, các nghệ nhân thuở xưa đã từng làm.

Các làng nghề khác như đúc đồng Ngũ Xã, đồ gốm sứ Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh, đồ chạm bạc, nạm bạc… tất tần tật, vẫn là những mẫu mã cũ. Các làng nghề này đã sản xuất ra với tốc độ nhanh và làm ra những số lượng nhiều hơn xưa, nhưng lại không được tốt, được đẹp như xưa - tức là mọi cố gắng của phần lớn các làng thủ công mỹ nghệ hiện nay là bắt chước làm ra những đồ "giả cổ".

Như vậy về mặt mỹ thuật là đi hụt lùi. Chỉ có một sự tiến bộ hơn các thợ, các nghệ nhân thời xưa là họ làm ra được những tác phẩm đồ thủ công mỹ nghệ to hơn, lớn hơn, cao hơn và dài hơn (đã làm được những chiếc trống đồng to hơn, đã làm ra những chiếc lọ, những cái vại, cái hũ, cái bình gốm sứ lớn hơn, cao hơn, đã làm được những tranh gốm sứ dài hơn…). Nhưng về mỹ thuật thì sự to, sự lớn, sự cao, sự dài, sự nặng không có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, mặt mạnh, mặt tích cực của các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay là đã phục vụ được đông đảo mọi tầng lớp dân chúng, phục vụ được đại chúng, vì làm ra số lượng nhiều, giá thành rẻ.

Ngày xưa chỉ có các quan lại, địa chủ, tư sản, cùng lắm là phú nông mới mua nổi tủ chè, sập gụ, sa lông cổ, các loại bình gốm sứ, các loại tượng đồng, đỉnh đồng để dùng, để bày. Ngày nay một ông bán phở, một bác xích lô, một bà bán xôi chè cũng có thể mua được những thứ đó để dùng, để bày nếu họ thích. Và không khí "tân cổ giao duyên" là một nét đặc trưng của đời sống đương đại. Người ta thấy rất quen mắt với những con phố mà cách quãng hay xen kẽ các cửa hàng bán tivi, quạt máy, máy điều hòa, tủ lạnh, máy tính với những cửa hàng bán bàn ghế sa lông cổ, tủ chè, sập gụ, ngai thờ, tượng gỗ, đỉnh đồng, chậu hoa, bình, lọ, đôn, kệ, gốm sứ, thủy tinh đủ loại, hàng thổ cẩm, tranh sơn mài tứ bình vẽ các thiếu nữ ăn vận kiểu cổ, áo dài, áo tân thời, các đồ nạm bạc, chạm ngà… của các làng nghề Việt Nam.

Cái đáng khích lệ, cái làm ta vui là thấy các đồ của các làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam chen vai, thích cánh cùng thi thố với các hàng công nghiệp tân tiến nhất của thế giới trên thị trường. Nhưng điều làm ta băn khoăn và cũng một chút buồn rằng: Thật khó khăn để tìm kiếm ra một thứ đồ trong cái đám đồ thủ công mỹ nghệ đang bày bán bạt ngàn tràn lan ấy trên khắp các phố phường ở những đô thị lớn hay những tỉnh, huyện… đạt mọi chuẩn mực để cung tiến vào "bảo tàng nghệ thuật".

Nhiều người đã hằng mong muốn có một "bảo tàng mỹ nghệ", điều đó rất đúng và cần phải làm. Hà Nội đã mở rộng gấp nhiều lần xưa, chắc không thiếu đất để xây một "bảo tàng mỹ nghệ". Và tiền để xây một "bảo tàng mỹ nghệ" chắc không bằng nửa tiền để xây một ngôi nhà chung cư cao tầng. Và vấn đề cốt lõi, quan trọng hàng đầu là làm thế nào cho các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay làm ra được những đồ xứng tầm để được "cấp giấy thông hành" có mặt ở bảo tàng đó, nếu không những đồ thủ công mỹ nghệ thời nay sẽ bị loại khỏi "ngôi đền nghệ thuật" này là điều chắc chắn


  Nguyễn Hào Hải (Theo An ninh Thế Giới Cuối tuần)
Comments (0)add
Write comment
quote
bold
italicize
underline
strike
url
image
quote
quote
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley

Copyright 2007. All Rights Reserved.
busy
 
< Trước   Tiếp >
  Các tin khác:
Nghệ thuật đương đại 2011: Quyết liệt và bảo thủ
Anh cua Bao The Thao & Van hoa
Gần như tuần nào cũng có ít nhất một sự kiện mỹ thuật xảy ra, một triển lãm được khai mạc. Không chỉ tập trung tại Hà Nội hay TP.HCM, mà lan ra cả Huế. Các cơ quan văn hóa nước ngoài (Viện Goethe, Hội đồng Anh, hay L’Espace) không còn giữ vai trò trung tâm, thay vào đó, các cá nhân ở khu vực tư nhân đang trở thành người gánh vác chính trong việc đưa nghệ thuật đương đại đến với công chúng. Nếu như kiếm tiền từ làm nghệ thuật còn khó khăn thì dường như việc kiếm tiền từ chỗ khác để làm nghệ thuật đã dễ dàng hơn nhiều.
Đọc tiếp...
 
 
 
“Giọt xuân” - vẻ đẹp Việt giữa mùa xuân
Anh cua Vietnamnet21 bức tranh với cái buồn man mác, nhuốm màu bàng bạc của thời gian, vương nếp gấp của những tà áo dài xưa cũ, triển lãm “Giọt Xuân” của họa sỹ Nguyễn Quốc Dũng diễn ra ngày 4/2/2012 tại phòng tranh Tự Do, 53 Hồ Tùng Mậu, tựa như đang mang hương sắc Hà Nội thời xa lắm vào phương Nam đầy nắng gió.
Đọc tiếp...
 
Nguyễn Quốc Dũng mang 'Giọt xuân' Hà Nội đến Sài Gòn
Anh cua Vnexpress Miệt mài với dòng tranh chân dung thiếu nữ, họa sĩ Hà Nội tiếp tục du Nam đầu xuân, giới thiệu tới công chúng TP HCM 20 bức sơn dầu mới. Mỗi bức họa của ông như gói trọn câu ca dao - dân ca đậm hồn dân tộc.
Đọc tiếp...
 

Dụng cụ nặn sơn dầu
Dụng cụ nặn sơn dầu
 Gọi để hỏi giá
Ống đựng giấy các loại
Ống đựng giấy các loại
 Gọi để hỏi giá
Xô rửa bút Inox loại nhỏ
Xô rửa bút Inox loại nhỏ
 Gọi để hỏi giá
Xô rửa bút Inox loại to
Xô rửa bút Inox loại to
 Gọi để hỏi giá
Túi nhựa rửa bút 02
Túi nhựa rửa bút 02
 Gọi để hỏi giá
Túi rửa bút bằng nhựa 01
Túi rửa bút bằng nhựa 01
 Gọi để hỏi giá
Giá vẽ chuyên nghiệp
Giá vẽ chuyên nghiệp
 Gọi để hỏi giá
Hộp gỗ đựng màu bột loại 18 màu
Hộp gỗ đựng màu bột loại 18 màu
 Gọi để hỏi giá
Hộp gỗ đựng màu bột loại 12 màu
Hộp gỗ đựng màu bột loại 12 màu
 Gọi để hỏi giá