Năm
1939, khi E.Jonchères thay Tardieu vị Hiệu trưởng cũ của Trường Mỹ
thuật Đông Dương có ý muốn sẽ tạm dừng việc đào tạo họa sĩ, thay vào đó
là dạy bộ môn "Mỹ thuật ứng dụng" để đào tạo những người ra làm nghề,
đã bị nhiều người yêu mến môn hội họa của trường này phản ứng. Và
Nguyễn Đỗ Cung đã bày tỏ sự bất đồng của mình trên báo "Ngày nay".
Những bất đồng, những phản ứng
của những người yêu hội họa Việt Nam năm 1939 với vị Giám đốc mới của
Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng chẳng liên quan gì mấy đến những vấn đề
thuộc mỹ học hay những quan điểm về lập trường giai cấp, thực ra nó chỉ
nằm trong dòng chảy chung của giới trí thức văn nghệ sĩ trong cuộc
"Cách mạng văn hóa" (có thể gọi như vậy) thời kỳ 30 - 45, do phái Tân
học khởi xướng mà nhóm "Tự lực văn đoàn" là một trong những ngọn cờ của
phong trào chống lại phái cựu học - phái bảo thủ bênh vực nhiều suy
nghĩ, quan niệm, tập quán, lối sống của chế độ phong kiến cổ hủ. Và đòi
được quyền làm chủ, bình đẳng, tự do cho cá nhân là yêu sách nổi bật
nhất của phong trào này.
Có thể nói muốn có được quyền
tự do cá nhân là niềm khao khát, nguyện vọng cháy bỏng nhất của giới
trí thức văn nghệ sĩ khi tham dự phong trào ấy. Họa sĩ Nguyễn Sáng, khi
được hỏi: "Điều gì khiến anh phải chuyển nghề, chuyển vùng?" - Nguyễn
Sáng bảo: “Hồi anh học ở Trường Mỹ thuật Gia Định, anh sướng lắm, vì
gần nhà, bà già lại chiều, nhà cũng khấm khá nên cho tiền xài xả láng,
nhưng vẫn phải bỏ ra Hà Nội học vẽ, vì không muốn làm đời một thằng
thợ! Hồi ra Hà Nội học, xa gia đình, ít tiền xài nhưng vui vì rất tự
do. Làm thằng nghệ sĩ là tự do nhất: Tự do sống, tự do chết, chỉ không
có tự do tài, nhưng vẫn sướng!".
Vì nhiều lý do, đặc biệt là
bắt đầu vào thời điểm này xã hội Việt Nam đã có những biến động mạnh,
nên E.Jonchères đã không thực hiện được ý định của mình và nghề thủ
công mỹ nghệ ở Việt Nam cũng không có những bước đột phá mới. Vài năm
sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ,
cả nước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, người đi tham gia
kháng chiến, người tản cư, các làng nghề vì thế cũng tan rã dần: Ở nông
thôn thực hiện khẩu hiệu "tiêu thổ kháng chiến", còn ở thành phố người
ta đã không tiếc rất nhiều đồ đạc quý hiếm, đẹp đẽ, đắt tiền do các
nghệ nhân tài hoa của các làng nghề làm ra như: Sập gụ, tủ chè, sa lông
cổ, câu đối, hoành phi, chân đèn, chân nến, giá gương, tranh tứ bình…
làm bằng sơn khắc, khảm trai, ốc, sơn son, thếp vàng, rồi chậu hoa,
bình hoa, gốm sành sứ đủ loại quăng vứt đầy đường để chặn quân thù, làm
cho kho báu những đồ thủ công mỹ nghệ của đất nước mất mát, hao tổn đi
không ít.
 |
|
Minh họa của Lê Phương. |
Tiếp đến sau hòa bình ta lại
đẩy mạnh việc xây dựng chế độ công hữu, thủ tiêu mọi hình thức tư hữu
nên nhiều làng nghề, thợ, nghệ nhân đã làm ăn theo lối cá thể, tư hữu
bỏ nghề. Tiếp theo sau đó không lâu, dân chúng một lần nữa lại chạy bom
đạn, chạy sơ tán tránh những cuộc đánh phá tàn khốc miền Bắc của giặc
Mỹ kéo dài cả chục năm, làm cho nhiều làng nghề tan nát hẳn, những
người thợ, những nghệ nhân, kẻ thì chết trong chiến tranh, sau hòa bình
những người sống thì đã ở vào những tuổi già nua, ốm yếu, con cháu hầu
như không ai tiếp nối truyền thống những ngành nghề của họ.
Có thể nói những nghề thủ công
mỹ nghệ Việt Nam cho tới sau 1975 và thậm chí đến giữa những năm 80 của
thế kỷ trước đã ở vào một thực trạng thật bi đát. Chỉ bắt đầu vào những
năm đầu của thập kỷ 90 sau khi có chủ trương thực hiện chính sách đổi
mới, chấp nhận nền kinh tế thị trường thì các làng nghề mới gượng dậy,
hồi sinh trở lại dần. Do có thêm những đường lối, chính sách mới, tích
cực và kinh tế, các làng nghề đã phát triển rất nhanh chóng, rất mạnh
mẽ trên khắp đất nước.
Cho tới nay có thể nói gần như
mọi ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của đất nước đã được phục
hồi, đây là một cố gắng, một thành tích rất đáng khích lệ. Tuy nhiên
mới chỉ đáng khích lệ ở mặt bề rộng, ở mặt số lượng, ở mặt tốc độ - tức
ngành nghề thủ công mỹ nghệ đã phát triển ở nhiều nơi, đã làm ra rất
nhiều những sản phẩm của đồ thủ công mỹ nghệ và làm với những năng suất
rất cao (tốc độ cao) so với những người thợ, những nghệ nhân truyền
thống thời trước.
Ông ngoại chúng tôi là nhà Nho
Trần Thư Điền, ngày xưa là một trong những người viết chữ Nho đẹp của
Hà thành, những thợ, những nghệ nhân đã nhờ cụ viết các câu chữ Nho để
họ làm các hoành phi, câu đối ở nhiều chùa, đình, đền ở Hà Nội xưa như:
Chùa Bà Đá, đình Hàng Than, đền Hàng Vải, Hàng Trống… đặc biệt là ở đền
Ngọc Sơn, ngôi đền này hiện vẫn còn trong gian thờ Đức thánh Trần Hưng
Đạo hai chữ rất đẹp "Trung - Nghĩa" trên nền tường chính, lạc khoản ghi
rõ ngày viết, tên người viết để ở sát dưới: "(Trần Thư Điền, Mùa thu
năm Đinh Mão - 1929).
Nhà ngoại chúng tôi cũng hay
dùng những đồ đạc do các thợ, các nghệ nhân thủ công mỹ nghệ làm ra,
ông ngoại chúng tôi kể lại rằng để làm ra những bộ hoành phi, câu đối,
sập gụ, tủ chè, các tủ bày đồ, những bộ bàn ghế sa lông cổ… thường phải
chuẩn bị gỗ từ hàng năm trước, rồi cho người ngâm gỗ xuống ao, hồ ở
làng, sau một thời gian lâu, khi gỗ được vớt lên mới mời những người
thợ, những nghệ nhân đến làm đồ. Làm tại gia. Một nhóm thợ gồm thợ cả
(thường là các nghệ nhân lão luyện) và các thợ phụ, làm một bộ đồ phải
mất vài tháng, thậm chí gần cả nửa năm mới xong.
Những người thợ làm rất cẩn
thận, kỹ lưỡng, chăm chút từng nét khắc, nét khảm, mảng chạm, vừa làm
vừa ngắm, vừa chỉnh sửa, sao cho những cảnh sơn thủy, chim muông, hoa
lá, nhà cửa, con người… được họ khắc, chạm, khảm, trổ… trông thật tinh
tế, sống động, hữu tình mới thôi. Họ không làm lấy nhanh mà làm lấy
tốt, lấy đẹp mới là mục tiêu để làm ra các đồ dùng, đồ bày. Họ làm với
sự chăm chỉ, nhiệt tình và cả sự hưng phấn. Ngày xưa nhiều bậc nghệ
nhân còn vừa làm, vừa uống rượu để lấy cảm hứng, để lấy sự thăng hoa
trong khi tạo ra cảnh, ra hình…
Các thợ, các nghệ nhân của các
làng nghề khác như: nghề gốm, nghề đúc, nghề chạm bạc, nghề thêu ren,
nghề kim hoàn… đều làm nghề với cách như vậy cả. Có thể nói đó là những
nghệ sĩ thực sự của làng quê xưa, trước khi có Tardieu đến Việt
Nam mở khoa hội họa để đào tạo ra các nghệ sĩ.
Nghề thủ công mỹ nghệ thời nay
hoạt động trong vòng xoáy của kinh tế thị trường làm cho người ta đã
đặt yếu tố lỗ - lãi lên hàng đầu, để đạt được lãi, nhiều người không
thể làm kỹ, làm thật như xưa nữa, mà phải chạy theo năng suất, cứ nhìn
thực trạng của các làng nghề đồ gỗ ở Đồng Kỵ, ở Bắc Ninh, ở Nam Định, ở
Hà Đông… một bộ đồ gỗ trung bình một nhóm thợ chỉ làm tối đa một tuần
là phải xong. Gỗ trên rừng vừa đốn về còn tươi, còn sượng, họ vẫn phải
xẻ ra đóng đồ để trả hàng, để chạy đua với những người bên cạnh, những
người hàng xóm trong làng nghề. Kiểu dáng, mẫu mã từ sập gụ, tủ chè, sa
lông cổ, tượng ông Phỗng, ông Phật, tượng ông Thiện, ông Ác… ngai thờ,
võng thờ, hoành phi, câu đối… đủ loại đều lấy mẫu từ thời cổ mà các
thợ, các nghệ nhân thuở xưa đã từng làm.
Các làng nghề khác như đúc
đồng Ngũ Xã, đồ gốm sứ Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh, đồ chạm bạc,
nạm bạc… tất tần tật, vẫn là những mẫu mã cũ. Các làng nghề này đã sản
xuất ra với tốc độ nhanh và làm ra những số lượng nhiều hơn xưa, nhưng
lại không được tốt, được đẹp như xưa - tức là mọi cố gắng của phần lớn
các làng thủ công mỹ nghệ hiện nay là bắt chước làm ra những đồ "giả
cổ".
Như vậy về mặt mỹ thuật là đi
hụt lùi. Chỉ có một sự tiến bộ hơn các thợ, các nghệ nhân thời xưa là
họ làm ra được những tác phẩm đồ thủ công mỹ nghệ to hơn, lớn hơn, cao
hơn và dài hơn (đã làm được những chiếc trống đồng to hơn, đã làm ra
những chiếc lọ, những cái vại, cái hũ, cái bình gốm sứ lớn hơn, cao
hơn, đã làm được những tranh gốm sứ dài hơn…). Nhưng về mỹ thuật thì sự
to, sự lớn, sự cao, sự dài, sự nặng không có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, mặt
mạnh, mặt tích cực của các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay là đã
phục vụ được đông đảo mọi tầng lớp dân chúng, phục vụ được đại chúng,
vì làm ra số lượng nhiều, giá thành rẻ.
Ngày xưa chỉ có các quan lại,
địa chủ, tư sản, cùng lắm là phú nông mới mua nổi tủ chè, sập gụ, sa
lông cổ, các loại bình gốm sứ, các loại tượng đồng, đỉnh đồng để dùng,
để bày. Ngày nay một ông bán phở, một bác xích lô, một bà bán xôi chè
cũng có thể mua được những thứ đó để dùng, để bày nếu họ thích. Và
không khí "tân cổ giao duyên" là một nét đặc trưng của đời sống đương
đại. Người ta thấy rất quen mắt với những con phố mà cách quãng hay xen
kẽ các cửa hàng bán tivi, quạt máy, máy điều hòa, tủ lạnh, máy tính với
những cửa hàng bán bàn ghế sa lông cổ, tủ chè, sập gụ, ngai thờ, tượng
gỗ, đỉnh đồng, chậu hoa, bình, lọ, đôn, kệ, gốm sứ, thủy tinh đủ loại,
hàng thổ cẩm, tranh sơn mài tứ bình vẽ các thiếu nữ ăn vận kiểu cổ, áo
dài, áo tân thời, các đồ nạm bạc, chạm ngà… của các làng nghề Việt Nam.
Cái đáng khích lệ, cái làm ta
vui là thấy các đồ của các làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam chen
vai, thích cánh cùng thi thố với các hàng công nghiệp tân tiến nhất của
thế giới trên thị trường. Nhưng điều làm ta băn khoăn và cũng một chút
buồn rằng: Thật khó khăn để tìm kiếm ra một thứ đồ trong cái đám đồ thủ
công mỹ nghệ đang bày bán bạt ngàn tràn lan ấy trên khắp các phố phường
ở những đô thị lớn hay những tỉnh, huyện… đạt mọi chuẩn mực để cung
tiến vào "bảo tàng nghệ thuật".
Nhiều người đã hằng mong muốn
có một "bảo tàng mỹ nghệ", điều đó rất đúng và cần phải làm. Hà Nội đã
mở rộng gấp nhiều lần xưa, chắc không thiếu đất để xây một "bảo tàng mỹ
nghệ". Và tiền để xây một "bảo tàng mỹ nghệ" chắc không bằng nửa tiền
để xây một ngôi nhà chung cư cao tầng. Và vấn đề cốt lõi, quan trọng
hàng đầu là làm thế nào cho các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay làm
ra được những đồ xứng tầm để được "cấp giấy thông hành" có mặt ở bảo
tàng đó, nếu không những đồ thủ công mỹ nghệ thời nay sẽ bị loại khỏi
"ngôi đền nghệ thuật" này là điều chắc chắn