Khái niệm và ý nghĩa của tư duy không
gian hai chiều trong mỹ thuật
Khi người cổ đại khởi đầu việc sáng tạo mỹ thuật với những hình vẽ trên
vách hang động, họ đã sử dụng không gian hai chiều. Trong không gian đó,
chiều sâu của sự vật không được lưu ý tới, hay nói đúng hơn là không
được biểu đạt một cách chính xác. Các vật thể ở xa thường được vẽ phía
trên các vật thể ở gần, nhưng kích cỡ của chúng vẫn tương đương nhau
thay vì tỷ lệ theo vị trí trong tranh.
Lối vẽ không gian ba chiều một cách chính xác xuất hiện trong các bức
tranh của phương Tây từ khá sớm, có lẽ là phổ biến ngay sau thời kỳ
Mosaic. Ở Nhật, thế giới quan ba chiều trở nên phổ cập trong tranh có lẽ
từ thế kỷ 19, khi các nghệ sỹ như Hokusai hay Hiroshige ít nhiều chịu
ảnh hưởng từ phương Tây. Tuy nhiên, cũng như người Trung Quốc, các nghệ
sỹ dân gian Nhật biết tả bóng cho các tình tiết trong tranh từ khá sớm.
Tuy toàn bộ bức tranh vẫn mang nặng tính không gian hai chiều, nhưng
bóng mờ vẫn phát huy hiệu quả, giúp làm nổi bật hình khối của các chi
tiết, nhân vật trong tranh.
Khác với Nhật và Trung Quốc, hội họa dân gian cổ Việt Nam vận dụng rất
ít không gian ba chiều. Các nghệ nhân Việt cổ thậm chí hầu như không có ý
thức cố gắng tả bóng để làm nổi bật hình khối các vật thể trong tranh.
Trái lại, họ tìm cách phẳng hóa sự vật. Những sự vật vốn dĩ không phẳng
trong đời sống, khi vào hình họa được cách điệu hóa để trở nên phẳng một
cách hợp lý theo ý thức thẩm mỹ của người sáng tạo. Biểu tượng chim lạc
trên các mặt trống đồng cổ là một ví dụ.
Tư duy không gian hai chiều trên bề mặt trống đồng cổ, trong tranh dân
gian Đông Hồ, và tranh Hàng Trống ngày nay là những di vật phản ánh một
dòng chảy có cội nguồn sâu xa, và có thể phần nào phản ánh một số tố
chất trong tâm hồn người sáng tạo. Thứ nhất, do không được mô tả hình
khối nên tất cả các sự vật trong tranh dễ bị có cảm giác thiếu chiều sâu
và trở nên căng cứng trên bề mặt tác phẩm. Người nghệ nhân chỉ được
phép vận dụng các nét rạch ròi, sắc cạnh trên các mặt phẳng. Điều này
đòi hỏi tính chính xác rất cao. Mỗi nét là một câu trả lời thẳng thắn
dứt khoát, có hoặc không. Ở đây không có chỗ cho những bóng mờ với vai
trò làm mềm hóa ấn tượng về vật thể, giúp thỏa hiệp với mắt nhìn của
người xem. Thứ hai, không mô tả hình khối sự vật cũng có nghĩa là người
nghệ nhân bớt bị ràng buộc vào ý thức cố gắng mô tả hiện thực một cách
chính xác. Tùy vào mục đích, điều này có thể tốt, cũng có thể không tốt.
Nếu mục đích của người nghệ sỹ là biểu đạt tình cảm hay quan niệm thẩm
mỹ – những sự vật trừu tượng cao – thì việc cố gắng mô tả chính xác vẻ
bề ngoài của sự vật rất có thể trở thành một gánh nặng, làm phân tán
năng lượng và tư tưởng của người nghệ sỹ, ngăn cản họ tự do biểu đạt nội
tâm sâu kín bên trong.
Vũ điệu của Henri Matisse (1910)
Lịch sử Nghệ thuật Hiện Đại của phương Tây đã dạy chúng ta bài học về
giá trị của tự do trong tư tưởng sáng tạo. Những người nghệ sỹ trường
phái Ấn Tượng đã tìm thấy tự do vì họ biết chối bỏ ý thức mô tả chính
xác vẻ bề ngoài của hiện thực. Thay vào đó họ tập trung vẽ những ấn
tượng nhằm biểu đạt tình cảm chân thành của mình. Điều thú vị là, những
nghệ sỹ Ấn Tượng như Van Gogh hay Pissaro từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ
tranh khắc gỗ Nhật Bản, mà một trong những điểm khác biệt lớn nhất của
chúng với hội họa đương thời phương Tây chính là ở tính chất không gian
hai chiều. Tư duy vềkhông gian hai chiều chính là duyên do sâu xa khởi
nguồn cho sự tự do, phóng khoáng và tính chiêm nghiệm cô đọng sâu sắc
trong hội họa phương Tây Hiện Đại. Sự chuyển hóa trong tư duy mỹ thuật
này được minh chứng thuyết phục trong bức Vũ Điệu (1910) nổi tiếng của
Henri Matisse.
Lựa chọn Không gian hai chiều chính là một cách để người nghệ sỹ từ bỏ
thế giới nhìn thấy được trong hiện thực để đổi lấy khả năng tự do biểu
đạt sự phong phú, phức tạp của sự vật. Cũng giống như ở bức Vũ Điệu của
Matisse, chúng ta có thể thấy rằng bức tranh Hàng Trống vẽ Đám Cưới
Chuột không bị ràng buộc bởi yêu cầu phải phân biệt giữa sự vật ở xa và ở
gần, hoặc tính logic của hình họa khi quan sát từ một vị trí cố định
nào đó. Không gian trong bức Đám Cưới Chuột là một không gian có tính
trừu tượng cao. Nó không mô phỏng lại một không gian cụ thể trong hiện
thực. Tính cách điệu cao, gợi nhiều hơn tả, khiến người xem dễ dàng liên
tưởng tới một không gian xã hội, không gian văn hóa, thay vì một không
gian vật thể nào đó.
Tương tự như vậy, ở các bức tranh thờ, ví dụ như tranh Ngũ Hổ, không
gian hai chiều rất phù hợp để biểu đạt cho không gian tâm linh có tính
khái quát cao. Đây cũng chính là điểm tương đồng giữa tranh thờ Hàng
Trống với tranh thờ ở những nền văn hóa tâm linh phát triển mạnh mẽ, như
Ấn Độ hay Tây Tạng. Qua đó thì thấy rằng tư duy không gian hai chiều
không hẳn đơn thuần là biểu hiện của sự lạc hậu về kỹ thuật, mà gắn liền
với những giá trị tinh thần độc đáo riêng.
Đặc thù lịch sử và những giá trị nhân văn trong mỹ cảm người
Việt cổ
Khi trình độ giao thương trên biển còn thô sơ, Việt Nam có thể coi là
một vùng đất thiếu ưu đãi và bị cô lập với thế giới. Vùng đồng bằng sông
Hồng khá bằng phẳng nhưng nhỏ hẹp. Điều này giới hạn quy mô của dân số
cho tới tận thời kỳ lịch sử hiện đại. Dân số nhỏ, điều kiện tự nhiên
thiếu ưu đãi, và giao thương kém phát triển là những nguyên nhân khiến
quy mô sản xuất không lớn, nhịp độ lao động không cao. Đây có thể là lý
do khiến những người thợ thủ công không phải chịu sức ép lớn trong công
việc. Họ không phải vội vàng hoàn thành công việc, và cũng không nhất
thiết phải tạo ra những sản phẩm có kiểu dáng đều tăm tắp để tối ưu hóa
năng suất.
Rồng thời Lý
Có thể do ít chịu sức ép đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành sản phẩm
nên những người nghệ nhân Việt đã hình thành nên một thói quen khá phổ
biến, đó là dùng họa tiết phủ kín các bề mặt thay vì tạo ra nhiều khoảng
trống lớn xen kẽ. Biểu tượng rộng thời Lý là một trong những ví dụ điển
hình. Đây là một trong những biểu tượng có tính đặc trưng nhất cho nghệ
thuật cổ của người Việt. Khác biệt lớn của rồng thời Lý với biểu tượng
rồng của các triều đại và quốc gia khác là ở tính phóng khoáng, cách
điệu cao, và đặc biệt là ở thân rồng tràn lấp một cách thoải mái khắp bề
mặt trang trí, cho thấy tinh thần người nghệ nhân ung dung và tự do
sáng tạo theo ý thích của mình.
Thói quen trang trí tràn lấp trên bề mặt tác phẩm phản ánh những đặc thù
riêng trong mỹ cảm người Việt cổ. Nó cho thấy người nghệ nhân quan tâm
bình đẳng tới mọi điểm trên bề mặt tác phẩm. Điều này một mặt thể hiện ý
thức cầu toàn của người thợ, mặt khác nó cũng phản ánh đời sống tinh
thần thong thả, không gấp gáp. Thói quen trang trí lấp đầy mặt phẳng của
người Việt cổ có đặc điểm khác với thói quen trang trí lấp đầy mặt
phẳng của một số dân tộc khác, trong đó điển hình là các dân tộc Trung
Á. Hoa văn của Trung Á nổi tiếng với những tiết tấu lặp đi lặp lại một
cách chính xác.
Lăng Samanid tại Bukhara, Uzbekistan
Họa tiết của người Việt cổ không có xu hướng này. Không có hai con chim
lạc nào giống hệt nhau trên bề mặt trống đồng. Các điểm trên bề mặt
trang trí có thể thoạt nhìn từa tựa như nhau, nhưng mỗi điểm tương ứng
với một khoảnh khắc ngẫu hứng riêng. Tính ngẫu hứng này bị thui chột ít
nhiều trong họa tiết đời Lý, nhưng từ đời Lê – Trịnh đổ về trước thể
hiện khá mạnh mẽ.
Họa tiết trên nóc đình Thổ Tang ở Vĩnh Phúc là một ví dụ sinh động. Các
cá thể phủ kín bề mặt trang trí, nhưng không có hai cá thể nào giống hệt
nhau về thần thái, cử chỉ. Mỗi cá thể có tính cách riêng, và đều bình
đẳng trong cơ hội biểu đạt tiếng nói của mình.
Họa tiết trang trí đình Thổ Tang, Vĩnh Phúc
Họa tiết trang trí đình Thổ Tang được đề cập ở đây là một bức phù điêu,
tức là một tác phẩm có tính ba chiều, nhưng bị áp đảo bởi mỹ cảm của
không gian hai chiều. Có lẽ bởi vì tư duy hai chiều là một yếu tố tự
thân trong mỹ cảm của người sáng tạo. Chỉ có không gian hai chiều mới
giúp người thợ phản ánh được tinh thần cộng đồng bình đẳng và thoải mái
mà chúng ta đã đề cập. Nếu tưởng tượng họa tiết đình Thổ Tang được sáng
tạo thuần túy theo tư duy ba chiều, trong đó có những hình nhô ra làm
điểm nhấn, và những mảng lõm vào để làm nền phía sau, thì chắc chắn giá
trị tinh thần của tác phẩm sẽ hoàn toàn bị thay đổi.
Thấm nhuần tư duy không gian hai chiều để bảo tồn văn hóa mỹ thuật
truyền thống
Có những yếu tố tưởng như là hạn chế, thực ra lại là chất xúc tác cần
thiết để tạo ra những giá trị quý báu lâu dài. Điều này không chỉ đúng
trong mỹ thuật Nền nghệ thuật sân khấu của người Việt cổ vốn bị hạn chế
về đạo cụ. Người diễn viên thường xuyên phải diễn chay, dùng động tác
chân tay để mô tả tình huống. Người nghệ sỹ có thể đang chèo thuyền,
thoắt đã lên ngựa, chuyển cảnh chỉ đơn giản bằng một vũ đạo. Nhưng chính
hạn chế đó lại tôn thêm tính phóng khoáng, đa nghĩa, và cô đọng cao cho
tác phẩm.
Cũng tương tự như vậy, tư duy không gian hai chiều trong mỹ thuật dân
gian Việt có thể vốn gắn liền với những hạn chế trong nhận thức do điều
kiện khách quan. Nhưng nó cũng gắn liền với một hệ mỹ cảm độc đáo và quý
giá. Tinh kết hợp với thô. Sự cô đọng có tính khái quát cao hòa trộn
nhuần nhuyễn trong với tinh thần cộng đồng giản dị và thoải mái tự do,
đó là những giá trị nhân văn cổ truyền của tâm hồn Việt được ẩn chứa
trong tư duy không gian hai chiều.
Cổng chùa Keo, Thái Bình, nay được trưng bày
tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Nhưng việc duy trì, nuôi dưỡng các giá trị văn hóa cổ truyền là một
thách thức lớn, khi mà thế giới chúng ta đang sống biến đổi quá nhanh.
Mọi cá thể đều phải chịu sức ép từ miếng cơm manh áo. Những người thợ
thủ công cũng không là ngoại lệ. Họ luôn bị buộc phải hoàn thiện sản
phẩm nhanh chóng, theo những kiểu mẫu cố định được chỉ định bởi thị hiếu
thị trường. Đời sống tinh thần của con người trong cộng đồng cũng đang
thay đổi. Người nông dân đang từ bỏ quê hương, đổ về thành phố tìm công
ăn việc làm. Sức ép đô thị hóa đang biến các làng nghề thành những cụm
nhà ống chen vai thích cánh. Người thợ ngày nay đang dần mất đi ý thức
trân trọng và tự hào về cộng đồng. Chúng ta đang để mất đi những nền
tảng cần thiết để nuôi dưỡng các giá trị văn hóa cổ truyền cơ bản. Để
gìn giữ, nuôi dưỡng văn hóa truyền thống, nhất thiết phải bắt đầu từ
việc bảo tồn các cộng đồng, đặc biệt là các làng nghề thủ công truyền
thống.
Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức và khả năng cảm thụ của con người
đương thời đối với các các giá trị mỹ thuật dân gian thật cần thiết. Nếu
thiếu sự thấu hiểu và khả năng cảm thụ thì việc tu tạo cũng chẳng khác
gì phá hoại. Càng cố gắng tu tạo thì lại càng hủy hoại nhanh chóng các
di sản văn hóa lịch sử. Điều này đã và đang trở thành một hiện thực phổ
biến khi người ta sửa chữa, làm mới một cách tràn lan các đền chùa, miếu
mạo trên khắp cả nước.
Đã đến lúc phải nghiêm túc tìm lại văn hóa cội nguồn qua các tác phẩm mỹ
thuật cổ. Bắt đầu ngay từ trồng đồng. Tổ tiên chúng ta đã gửi gắm vào
trống đồng tất cả những tri thức về mùa vụ, thiên văn, về mối quan hệ
thiêng liêng giữa cá thể và cộng đồng, giữa con người với trời đất, tạo
hóa. Nguồn tri thức đó của người xưa từ vài nghìn năm trước rất có thể
sẽ vĩnh viễn không bao giờ được giải mã và khôi phục lại trọn vẹn. Nhưng
chúng ta vẫn có thể cảm thụ được một cách sinh động qua bố cục tác
phẩm. Nó là chùm chìa khóa mở ra những kho tàng lưu giữ mỹ cảm và tâm tư
của người đi trước. Tư duy không gian hai chiều là một chiếc chìa khóa
quan trọng như vậy.
Bài và ảnh: Phạm Trần Lê (Tạp chí Tia Sáng)