Chuyện từ những bộ luật
Nhật
Bản, có thể nói là một trong những nước đầu tiên quan tâm đến vấn đề
bảo vệ các di sản văn hóa truyền thống ở châu Á cũng như trên thế
giớii. Công việc này ở Nhật đã được bắt đầu từ thế kỷ XIX, ngay sau
cuộc Duy Tân Minh Trị. Sau 1864, làn sóng học hỏi Tây Phương, hủy Phật
lật Thích vô cùng thịnh hành, những di sản văn hóa, đặc biệt là những
chùa chiền Phật giáo ở Nhật bị uy hiếp nghiêm trọng. Tháng 5 năm 1871
(năm Minh Trị thứ 4), Thái Chính Cung chấp nhận kiến nghị của Đại học
(tiền thân của Bộ Giáo dục Nhật Bản ngày nay), ban hành “Phương sách
bảo vệ cổ vật” nhằm bảo vệ những tác phẩm mỹ thuật và thủ công mỹ nghệ
Nhật Bản. Đây là văn kiện đầu tiên mang tính Nhà nước liên quan đến bảo
vệ di sản văn hóa truyền thống của Chính phủ Nhật Bản. Bên cạnh đó, bắt
đầu từ thời điểm này, công tác chuẩn bị cho luật bảo vệ di sản cũng đã
chính thức được đưa vào nghị trình của Chính phủ Nhật.
Năm
1888, Nhật Bản thành lập Cục Điều tra và Bảo vệ Bảo vật Quốc gia lâm
thời. Năm 1897, trên cơ sở cuộc điều tra cả nước, Nhật Bản ban hành
“Luật bảo vệ di tích chùa chiền cổ”. Năm 1919, ban hành “Luật bảo vệ di
tích lịch sử và danh thắng thiên nhiên”. Năm 1929, bắt đầu thực thi
“Luật bảo tồn bảo vật quốc gia”. Đây là bộ luật bảo vệ di sản có vai
trò rất quan trọng ở Nhật. Năm 1933, “Luật bảo vệ các tác phẩm mỹ thuật
quan trọng” được ban bố. Đến 1950, khi hậu quả của cuộc chiến tranh thế
giới thứ II vẫn còn nặng nề và nền kinh tế Nhật chưa đạt đến tốc độ
phát triển chóng mặt như giai đoạn sau đó, Nhật Bản đã ban hành “Luật
bảo vệ tài sản văn hóa”. Đây được xem là bộ luật hoàn thiện nhất cho
đến thời điểm đó vì đã tập hợp tất cả những quy định pháp luật liên
quan đến di sản văn hóa đã được ban hành.
“Luật
bảo vệ tài sản văn hóa” của Nhật đã quy định một cách cụ thể, minh xác
từ thể chế hành chính trong sự hợp tác giữa Trung ương và địa phương
cho đến trách nhiệm của mỗi công dân, những cá nhân sở hữu các di sản
văn hóa, chính quyền địa phương và Trung ương đối với lĩnh vực bảo vệ
di sản văn hóa truyền thống. Đây cũng là bộ luật đầu tiên sử dụng khái
niệm “văn hóa phi vật chất”, đưa một số hoạt động văn hóa và phong tục
tập quán đặc sắc của địa phương vào phạm vi bảo vệ. Việc đưa khái niệm
“văn hóa phi vật chất” vào một bộ luật mang tính Nhà nước tại thời điểm
năm 1950 là một tiến bộ đáng kể. Vì rằng Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề
mà các quốc gia khác chưa hề chú ý đến: Vấn đề bảo vệ những di sản văn
hóa “vô hình”. Điều này đã phát huy một ảnh hưởng quan trọng đến những
chế định pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa của thế giới sau đó cũng
như quan niệm của mọi người trong vấn đề này. Cho đến nay bộ luật này
vẫn được áp dụng sau nhiều lần sửa chữa và hoàn thiện. Điều này cho
thấy một tầm nhìn rất xa và toàn diện của quốc gia này đối với vấn đề
bảo vệ di sản văn hóa truyền thốngii.
Đặt yếu tố con người vào trung tâm
Trong
công việc bảo vệ văn hóa truyền thống, Nhật Bản rất coi trọng những
người đặc hữu các giá trị văn hóa truyền thống. Trong “Luật bảo vệ tài
sản văn hóa” của Nhật, Chính phủ dành cho nghệ nhân biểu diễn cũng như
nghệ nhân thủ công mỹ nghệ trong dân gian một địa vị rất cao. Họ gọi
những nghệ nhân có khả năng truyền giữ và kế thừa một hạng mục văn hóa
truyền thống nào đó là: “Quốc bảo trong dân gian”. Những nghệ nhân dân
gian này không chỉ được Chính phủ ưu đãi trong các chế độ thuế mà còn
được giúp đỡ trong việc tiêu thụ tác phẩm hoặc trình diễn. Dưới sự bảo
trợ của Chính phủ, tác phẩm của những nghệ nhân này có giá trị lưu giữ
và sinh lợi nhuận nên việc mua các tác phẩm của họ giống như mua một
món đồ cổ, có giá trị kinh tế và văn hóa rất cao.
Bên
cạnh những chính sách hỗ trợ, mỗi năm, Chính phủ Nhật còn trợ cấp một
khoản tiền rất lớn cho các nghệ nhân thuộc danh sách “Quốc bảo dân
gian” này. Theo thống kê của Bộ Văn hóa Nhật, đến nay trong lĩnh vực
văn nghệ và kỹ nghệ, Nhật Bản có 114 “Quốc bảo dân gian”. Và trong số
10% tổng số tiền dự toán hằng năm của Bộ Văn hóa chi cho các hoạt động
bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (khoảng 10 tỉ Yên) thì
Nhật Bản dùng 2 triệu Yên dành để trợ cấp cho các nghệ nhân này. Ngoài
ra, luật pháp Nhật cũng quy định rõ, nếu như những “người đặc hữu” các
di sản văn hóa phi vật thể mà giữ bí mật, không truyền cho người khác,
thì dù kỹ thuật cao bao nhiêu cũng không được đưa vào danh sách “Quốc
bảo dân gian” hoặc “Những người đặc hữu các di sản văn hóa phi vật thể”.
Điểm
đặc trưng của chính sách này của Nhật Bản chính là đặt lên hàng đầu yếu
tố con người trong công việc giữ gìn và kế thừa những giá trị văn hóa
truyền thống. Người ta thường nói đến mệnh đề “truyền lửa hơn là giữ
lửa”, thế nhưng, để truyền được lửa, sự hô hào theo lối phong trào là
vô nghĩa. Muốn giữ lửa, trước hết con người phải là trung tâm. Thực tế
đã chứng minh rất rõ, những biện pháp được Chính phủ Nhật thực thi đã
tác động một cách tích cực thúc đẩy việc bồi dưỡng thế hệ kế thừa những
giá trị văn hóa truyền thốngiii.
Câu chuyện của toàn dân
Không
chỉ riêng ở Nhật, ở các quốc gia phát triển, câu chuyện bảo tồn di sản
văn hóa truyền thống luôn được coi là trách nhiệm và ý thức của toàn
dân. Những giá trị văn hóa truyền thống tồn tại trong nhân dân và chỉ
có thể được bảo vệ, gìn giữ bởi nhân dân. Chính phủ dẫu có đầu tư bao
nhiêu tiền của cũng sẽ bất lực nếu như không chú ý đến việc bồi dưỡng ý
thức cũng như huy động nhân dân tham gia trong công việc này. Và người
Nhật đã làm việc này một cách hiệu quả.
Ở
một quốc gia mà đất đai, tài sản được tư hữu hóa như ở Nhật, để huy
động toàn dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa, vấn đề đầu tiên mà Chính
phủ Nhật chú ý là vấn đề công hữu hóa toàn bộ các di tích lịch sử và
văn hóa. Tuy nhiên, thực tế thì ở Nhật rất nhiều các di sản văn hóa
đều thuộc sở hữu của tư nhân. Vì thế, ở Nhật vai trò chủ yếu của Chính
phủ đối với các di sản văn hóa là làm sao để các di sản văn hóa này
tránh được sự phá hoại của các nhân tố tự nhiên như địa chấn,… Việc duy
trì, tu bổ, thậm chí kinh doanh đối với các khu di sản văn hóa của Nhật
đa phần đều do chính quyền địa phương hoặc cá nhân sở hữu di sản văn
hóa đó trực tiếp quản lý và thực hiện. Điều này sẽ đặt những di sản văn
hóa này trước nguy cơ xuống cấp khi kinh phí tu bổ cho những di sản này
lên quá cao. Tuy nhiên, hiện trạng cũng lại đòi hỏi chính những người
chủ quản trực tiếp của chúng phải huy động toàn bộ nội lực của mình để
duy trì di sản văn hóa. Đồng thời Nhà nước sẽ hỗ trợ các đơn vị chủ
quản di sản này thông qua các quỹ “chấn hưng văn hóa nghệ thuật”, do cả
Chính phủ và nhân dân cùng đầu tư xây dựng và đóng góp. Việc Chính phủ
“giao quyền” theo cách đó, là một biện pháp hữu hiệu để huy động sức
lực của nhân dân tham gia vào công việc gìn giữ những giá trị văn hóa
truyền thống.
| Những
giá trị văn hóa truyền thống tồn tại trong nhân dân và chỉ có thể được
bảo vệ, gìn giữ bởi nhân dân. Chính phủ dẫu có đầu tư bao nhiêu tiền
của cũng sẽ bất lực nếu như không chú ý đến việc bồi dưỡng ý thức cũng
như huy động nhân dân tham gia trong công việc này. Và người Nhật đã
làm việc này một cách hiệu quả. |
Điều
quan trọng là, người Nhật ý thức được rằng biện pháp huy động sức dân
đó chỉ có hiệu quả trên một nền tảng ý thức về giữ gìn di sản văn hóa
truyền thống cao. Chính phủ Nhật luôn coi người dân là chủ thể của mọi
hoạt động bảo vệ di sản văn hóa và người dân Nhật từ rất lâu cũng đã
xây dựng sự trân trọng đối với văn hóa truyền thống. Những du khách đến
Nhật, rất thường thấy những tấm biển “Di sản văn hóa A”, “Di sản văn
hóa B”, thậm chí, ngay cả một khu kiến trúc nhỏ chẳng thuận mắt chút
nào đối với người nước ngoài cũng treo biển: “Di sản văn hóa quan
trọng”. Những không gian khu di tích và kiến trúc như vậy không chỉ
được bảo tồn rất hoàn hảo, sạch sẽ mà còn luôn có kèm theo cả một khu
tư liệu lịch sử liên quan để người dân và du khách có thể đọc và tìm
hiểu. Cách làm đó cho thấy một ý thức rất cao của người dân Nhật trong
công việc gìn giữ những giá trị di sản văn hóa truyền thống của mình.
Tăng cường tính hoạt dụng của di sản
Đối
với tài sản văn hóa truyền thống, Nhật Bản không chỉ dừng lại ở việc
“bảo vệ, giữ gìn”. Chính phủ Nhật Bản rất coi việc phát huy tác dụng
thực tế của các tài sản văn hóa, đặc biệt là trong nhận thức và giáo
dục. Việc bảo tồn di sản văn hóa không thể chỉ đóng khung trong phạm vi
bảo tàng, những giá trị văn hóa truyền thống sẽ chết nếu nó không được
làm sống lại trong đời sống cộng đồng của cư dân của quốc gia dân tộc
đó. Chính vì thế, Chính phủ Nhật đã tìm mọi biện pháp để giúp nhiều
người hiểu rõ hơn về tính lịch sử cũng như giá trị văn hóa của những di
sản văn hóa truyền thống. Khi càng nhiều người biết về giá trị của văn
hóa truyền thống, thì cũng là lúc chức năng của các di sản này đã bị
biến đổi về căn bản. Có lẽ không phải ngẫu nhiên, người Nhật gọi các di
sản văn hóa truyền thống là “tài sản văn hóa” và những nghệ nhân dân
gian đều được gọi là những “Quốc bảo dân gian”.
| Việc bảo
tồn di sản văn hóa không thể chỉ đóng khung trong phạm vi bảo tàng,
những giá trị văn hóa truyền thống sẽ chết nếu nó không được làm sống
lại trong đời sống cộng đồng của cư dân của quốc gia dân tộc đó. |
Công
tác gìn giữ và phát huy di sản văn hóa truyền thống với những quan niệm
và các làm mới ở Nhật có thể nói đã có sự ảnh hưởng khá sâu rộng trên
phạm vi thế giới. Việc cho ra đời “Luật bảo vệ tài sản văn hóa” vào năm
1950 và đưa ra khái niệm văn hóa phi vật thể trong thế đối ứng với văn
hóa vật thể, việc xây dựng khái niệm và thể chế đối với “tài sản văn
hóa”, “Quốc bảo dân gian”,… đã có ảnh hưởng lớn đến tổ chức UNESCO của
Liên Hợp Quốc và không ít các quốc gia phát triển khác trên thế giới.
Sau Nhật Bản, lần lượt các quốc gia Hàn Quốc (1964), Thái Lan (1985),
Philipines (1994), Pháp (1994),… đều xây dựng các thể chế chính thức
dành cho các “Quốc bảo dân gian”. Từ 1996, Tổ chức UNESCO bắt đầu tổ
chức các “Lớp bồi dưỡng quốc tế về thể chế gìn giữ những quốc bảo dân
gian”. Có thể nói, những kinh nghiệm của nước Nhật trong công việc giữ
gìn và phát huy di sản văn hóa truyền thống là những bài học thực sự
thiết thực đối với chúng ta.
---------
i
Nước Pháp được coi là quốc gia đầu tiên trên thế giới công bố luật về
bảo vệ di sản văn hóa với “Dự luật về di tích kiến trúc lịch sử” được
ban hành năm 1840.
ii
Ở Việt Nam, Luật bảo vệ di sản được ban hành vào năm 2001. Tuy nhiên,
dù được ban hành rất muộn như vậy, song sau ngót mười năm đưa vào thực
tế, vẫn có những ý kiến về sự bất cập của bộ luật này.
iii
Vấn đề giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là con
người ở Việt Nam chưa được chú ý một cách đúng mức ở phương diện Nhà
nước. Đã từng có câu chuyện về các nghệ nhân Nhã nhạc sau cuộc tôn vinh
của UNESCO thì vẫn cứ quay trở lại với một nghề đi làm đám ma, đám hội
để kiếm sống. Đó là chuyện đáng buồn ở một quốc gia luôn tự hào là giàu
truyền thống như Việt Nam.
Copyright 2007. All Rights Reserved.